Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2026
Bùi Hữu Thư - đại tá HQ VNCH
Trên VTV1 xuất hiện Christina, con gái của Bùi Hữu Thư.Quê Yên Mô Ninh Bình
Để kể lại như một câu chuyện về cuộc đời hải nghiệp của tôi, tôi mạn phép độc giả lược kê cả các giai đoạn xen kẽ giữa quân trường Bộ Tư Lệnh và các chiến hạm tôi chỉ huy. Năm 1956 sau khi tốt nghiệp Trường Sĩ Quan Hải Quân Pháp khóa Ba Brest tôi đã được về trình diện Tư Lệnh Hải Quân lúc bấy giờ là Thiếu Tá Lê Quang Mỹ tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam bên Trại Cửu Long, Thị Nghè. Thiếu Tá Mỹ đã trò truyện bằng tiếng Pháp với tôi hồi lâu và sau đó cho tôi biết tôi được chỉ định ra Nha Trang làm Sĩ Quan Đệ Tam trên Trục Lôi Hạm Chương Dương (YMS) HQ 112, lúc đó đang làm Huấn Luyện Hạm cho Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân. Hạm trửơng chiếc Chương Dương lúc đó là Hải Quân Trung Úy Trần Bình Sang. Ngoài chiếc Chương Dương ra còn hai chiếc Trục Lôi Hạm khác: HQ 111 Hàm Tử và HQ 113 Bạch Đằng. Ba chiếc này được biệt phái ra Nha Trang để huấn luyện sinh viên sĩ quan và thủy thủ trong việc hải hành, vận chuyển, trọng pháo, phòng tai, cơ khí…. Các tầu này làm bằng cây được đóng để thực hiện công tác rà mìn cận duyên. Tuy nhiên vì quá cũ kỹ nên không còn được khử từ để sẵn sàng thi hành loại công tác này.
Mỗi buổi sáng đúng 8 giờ hạm trưởng thả giây mũi cột phao và tiến ra ngoài vịnh Nha Trang, chạy theo một hải trình đã vẽ sẵn trên hải đồ là bọc quanh Hòn Tre, và trở về Cầu Đá lúc 12 giờ trưa. Mấy chiếc GMC chở sinh viên lúc đó là khóa 7 Nha Trang xuống chiến hạm. Hạm trưởng Sang là một nhà vận chuyển rất tài tình. Ông dùng máy một bên lùi, một bên tiến để di chuyển lái tầu sau khi đã lấy phao mũi. Chỉ trong khoãnh khắc chiếc tâù đã vào vị trí phía bắc của Cầu Đá. Hai chiếc HQ và 113 thì chiếm giữ vị trí phía đông và phía nam cầu. Với tư cách là sĩ quan hải hành, tôi có nhiệm vụ làm point để định vị trí tầu mỗi 15 phút. Các điểm của tôi san sát nhau có tam giác nhỏ xíu...
Trên chiếc Chi Lăng tôi đã hộ tống 16 ghe mành từ Đà Nẵng về Saigon. Đây là các ghe Móng Cáy vượt biên từ bắc vào. Tôi đã được lệnh phải đưa họ về tời Saigon trước tết Nguyên Đán năm 1961. Tôi đã về đến nơi và cặp cầu C trước giao thừa năm ấy sau một tuần lênh đênh chăn đàn bò chạy như rùa khi không có gió.
Tôi đi du học Hoa Kỳ tháng 6, 1960 và trở về nước tháng 7, 61 và được chỉ định về Hải Lực. Tại đây tôi đã phục vụ dưới quyền Thiếu Tá Nghiêm Văn Phú và sau đó là Thiếu Tá Đinh Mạnh Hùng. Trong thời gian này chúng ta khởi sự Hành Quân Market Time, tuần tiễu hổn hợp Việt Mỹ tại Vĩ tuyến 17. Tôi đã cắt đặt các chiến hạm tuần tiễu 10 ngày và nghỉ bến 5 ngày. Việt Nam phụ trách hai tuyến gần bờ trong khi các Trục Lôi Hạm Hoa Kỳ MSO phụ trách các tuyến ngoài khơi. Vì không đủ tầu bè cả các LSM cũng đã bị chỉ định tuần tiễu. Đây là giai đoạn thử lửa và khó khăn vì cần chứng tỏ cho Hoa Kỳ biết là chúng ta có khả năng tuần dương hữu hiệu và ngăn chặn sự xâm nhập bằng đuờng biển từ bắc Vĩ tuyến 17 vào. Trong thời gian ở Hải Lực chúng tôi cũng tham dự vào cuộc tác xạ phòng không chống các máy bay oanh tạc dinh Độc Lập.Sau ba năm phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Hải Lực trong chức vụ Sĩ Quan Hành Quân tôi được bổ nhiệm lãnh chiếc Hải Vận Hạm Tiền Giang HQ 405 (LSM) do Đại Úy Nguyễn Hữu Chí chuyển giao tại Thành Tuy Hạ khi tầu đang lãnh đạn tại đây vào năm 1963. Năm 1964 khi hai chiếc hộ tống hạm (PCE) HQ 10 và HQ 11 do đại úy Nguyễn Văn Ánh và đại úy Vũ Đình Đào lãnh tại Mỹ và trở về nước, tôi đã bay ra An Thới lãnh chiếc Nhật Tảo HQ 10 và chạy ra Đà Nẵng để tham dự lễ khánh thành cầu tầu mới của Căn Cứ Hải Quân Đà Nẵng ở Tiên Sa.
Tôi về Quân Huấn đúng lúc có sự bành trướng Quân Lực và Việt Nam hóa chiến tranh. Kế hoạch ACTOV (Accelerated Turn Over to Vietnam) đã được khởi sự với sự chuyển giao các PBR cho Hải Quân Việt Nam. Văn Phòng của Tham Mưu Phó Nhân Viên chăng đầy nhừõng sơ đồ tổ chức và trang bị nhân viên. Việc tuyển mộ phải được tăng cường song song với việc huấn luyện. Khi tôi nhận phòng Quân Huấn, quân số không quá 36 nhân viên, gồm có ban Điều Huấn và ban Du Học. Ngay sau đó có thể nói là chúng tôi và Trung Tá Sơn phải họp liên miên với nhân viên của Văn Phòng cố vấn trưởng. Thiếu tá Anderson được bổ nhiệm làm cố vấn của tôi, và cố vấn trưởng là một đại tá và cuối cùng vào năm 1971-72 thì nâng lên cấp tướng đó là Admiral Rauch. Trong hai năm rưỡi chúng tôi phải huấn luyện 27.000 sĩ quan và nhân viên để nhận lãnh hết mọi chiến hạm, chiến đỉnh, và căn cứ do Hoa Kỳ chuyển giao. Vì tướng Hải Quân Hoa Kỳ chỉ huy các lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ tại Việt Nam lúc đó là Đô Đốc Elmo Zumwalt, một người lãnh đạo rất thương lính và có nhiều cải tiến cho quân chủng này. Đề Dốc Chơn cũng làm việc rất ăn khớp với ông ta.
Cuối năm 1972 sau khi tổ chức huấn luyện 27.000 sĩ quan và thủy thủ để nhận lãnh tất cả tầu bè và căn cứ cho Hải Quân Hoa Kỳ trao lại. Tôi đả được gọi lên trình diện Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân. Khi vào văn phòng của Tư Lệnh tôi đã thấy có Đô Đốc Zumwalt hiện diện. Tư Lệnh Chơn đã bảo tôi: “Ông đã thi hành mỹ mãn nhiệm vụ giao phó. Nhờ ông mà Hải Quân Hoa Kỳ đã có thể rút ra khỏi Việt Nam trước kỳ hạn. Việc Việt Nam Hóa chiến tranh phía Hải Quân đã xong trước Không Quân và Lục Quân. Để tưởng thưởng cho ông, Đại tá Thư, ông muốn được thăng cấp hay muốn đi học theo đề nghị của Đô Đốc Zumwalt?” Tôi đã thưa ngay và không cần suy nghĩ là tôi muốn đi học.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)