Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

Hình trên trống đồng tại Trung Quốc



Bài đang viết ....Hình thuyền trên trống đồng (铜鼓船纹Tónggǔ chuán wén) đã được bàn luận khá nhiều . Chúng ta cần tìm hiểu xem những ý kiến của họ ra sao . Vào mạng Google 铜鼓船纹 , cho ta 244 nghìn kết quả . Còn tìm Google "hình thuyền trống đồng " cho ta 424 K kết quả, gấp đôi


Đầu tiên ta cần so sánh trống đồng đào thấy tại Việt Nam và Trung Quốc qua bài viết :Nguồn gốc trống đồng: Cuộc tranh cãi giữa Việt Nam và Trung Quốc
GS Nguyễn Văn Hảo, nguyên Viện phó Viện Khảo cổ cho hay, hiện nay nhiều nước Đông Nam Á cũng có trống đồng. Nhưng ở Việt Nam và Trung Quốc trống đồng có niên đại lâu hơn cả. Việc phân định trống đồng của nước ta có trước, hay Trung Quốc có trước vẫn là vấn đề gây tranh cãi trong giới chuyên môn. Một số chuyên gia khảo cổ học phương Tây cho rằng, Việt Nam là cái nôi của trống đồng, người Trung Quốc đã lấy mẫu trống đó về thêm một số họa tiết để đúc lại. Nhưng theo quan điểm thống trị của Trung Quốc thì trống đồng Vạn Gia Bá 万家坝 ở Vân Nam có đầu tiên, ra đời thứ hai là trống Đông Sơn, thứ ba là trống Thạch Trại Sơn.
Để phản bác điều đó nhiều nhà nghiên cứu của nước ta đưa ra lập luận khẳng định Việt Nam là cái nôi của trống đồng. TS Hảo đồng ý với ý kiến Cụ Đào Duy Anh cho rằng, trống đồng Đông Sơn ra đời đầu tiên, sau đó người Hán mới mang về biến cái đó thành của mình. “Không phải tôi là người Việt mà tôi nhất trí như vậy mà nghiên cứu của tôi đã chỉ ra. Khi nói tới trống đồng người ta thừa nhận là nhạc cụ gõ, yếu tố nào quyết định là nhạc cụ thì đầu tiên là hình dáng, mặt trống gõ phát ra âm thanh, thân trống là phần cộng hưởng. Thứ hai, hình dáng trống cũng quyết định đến âm thanh. Thứ ba, chất liệu chế tạo trống. Ba yếu tố đó không chỉ tạo thành âm sắc, âm vực của chiếc trống mà nó có ý nghĩa, nó biểu hiện hồn phách của dân tộc có trống đó, dân tộc nào vẽ hoa văn của dân tộc đó. Hoa văn trên trống đồng là hoa văn thể hiện văn hóa, của dân tộc chế tạo ra hoa văn đó chứ không phải mỗi trống có hoa văn riêng”, GS Hảo cho biết.
Trong sách viết về nguồn gốc trống đồng của người Trung Quốc họ nói chiếc trống cổ do 6 dân tộc chế tạo, trong đó có người Lạc Việt. Số lượng trống tìm thấy là 46 chiếc. Điều đó là bất hợp lý, không thể 6 dân tộc lại chế tạo một loại trống.
Theo nghiên cứu của GS Hảo, chiếc trống Thạch Trại Sơn có hoa văn giống Đông Sơn, nhưng người Điền đã khắc thêm những hoa văn của họ, đè lên hoa văn của Đông Sơn. Trong hội nghị quốc tế tổ chức tỉnh Quế Lâm, Trung Quốc, khi TS Hảo phát biểu và đưa ra những giải thích khiến các nhà khoa học Trung Quốc cũng phải đồng ý. Chính một GS – Hiệu phó của trường Học viện Dân tộc học Quảng Tây tiến hành phân tích đồng vị chì chiếc trống ở Quý Huyện, Quảng Tây cũng khẳng định rằng, chiếc trống đồng cổ nhất của người Đông Sơn chế tạo. Bằng cách nào đó chiếc trống được đưa sang Trung Quốc và được thợ khắc thêm hoa văn trên trống.
Qua tìm hiểu của GS Hảo, những chiếc trống mà Trung Quốc nói là trống cổ của họ, được tìm thấy trong ngôi mộ của viên quan từng cai trị ở nước ta. Vì thế, ông ta mất đi, biết trống đồng quý đã bảo con cháu chôn cất trong mộ của mình. Giống như Mã Viện sang đàn áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó lấy trống đồng về đúc ngựa. Do vậy, việc Trung Quốc cũng có những chiếc trống đồng bằng với niên đại ở nước ta là do họ đã mang về để sử dụng.
Những chiếc trống đồng Thạch Trại Sơn của người Điền 滇 có cách nay hơn 1 nghìn năm hoa văn tả thực hơn trống Đông Sơn, độ tả thực cao, chi tiết. Tay người đeo vòng, người mặc áo hoa kẻ sọc, có khuyên tai. Điều đó chứng tỏ người Điền lấy trống Đông Sơn cải tạo thành thùng đựng vỏ ốc, mặt họ phá đi đúc mặt mới làm nắp, dưới làm một cái đáy để bỏ vỏ ốc. Đối với người Điền thì ốc là tiền, những vỏ con ốc lợn được lấy từ biển của Ấn Độ, là những thứ rất quý. Những hoa văn gốc của trống như hình ảnh người mặc nửa trần, đội mũ lông chim đặc trưng người Đông Sơn đã bị cạo, khắc hình ảnh đặc trưng của người Điền.
Những lý giải của GS Hảo về trống đồng cổ của ông được Hội đồng nghiên cứu trống đồng Trung Quốc cũng phải công nhận là đúng. Tập luận văn nghiên cứu về trống đồng của GS Hảo hiện được Bảo tàng khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc ghi nhận và lưu giữ tại đây. Nhiều người trong giới chuyên môn đã công nhận Việt Nam là cái nôi của trống đồng.



Cuốn sách nêu nhiều hình thuyền nhất là cuốn " 中国古船图谱 " (Zhōngguó gǔ chuán túpǔ Trung
Quốc cổ thuyền đồ phổ) của tác giả Vương Quán Trác (王冠倬Wángguàn zhuō 1934-2008 ) , do Tam Liên Thư điếm xuất bản . Vương người Zouping 邹平, Sơn Đông , tốt nghiệp khoa lịch sử Đại học Bắc Kinh. Từ năm 1960 bắt đầu tham gia Bảo tàng Lịch sử TQ ,nghiên cứu và trình bày về đời Tống và Nguyên và bắt đầu khảo cứu lịch sử khoa học tự nhiên của TQ. 1972, chủ trì lịch sử Tống Nguyên ,lịch sử khoa học cổ đại Trung Quốc. Về hưu năm 1994. Là thành viên nhiều tổ chức : "中国海外交通史研究会理事" ,"中国古船研究中心特约研究","中国造船工程学会船史组" Cùng với 王嘉 , xuất bản cuốn "中国古船扬帆四海" ,đã được trường Michigan xuất bản dạng điện tử
Tịch Long Phi

Cuốn sách thứ hai là "中国古代造船史" (Zhōngguó gǔdài zàochuán shǐ Lịch sử đóng thuyền cổ đại Trung Quốc ) , tác giả  席龙飞 (Xílóngfēi Tịch Long Phi) sinh năm 1930 ,dân tộc Mãn Châu , quê quán Mai Hà Khẩu Meihekou tỉnh Cát lâm 吉林梅河口; tốt nghiệp đóng tàu Đại học Đại Liên , hiện nay là giáo sư Đại học Vũ Hán , Phó Chủ tịch Hội Lịch sử Tàu thuyền TQ . Đã trải qua 44 năm giảng dạy nghiên cứu thiết kế, công nghệ và  lịch sử đóng tàu , có nhiều công trình khôi phục các thuyền cồ Trung Quốc . Đã có 70 công trình công bố .
Cuốn sách của Tịch có 12 chương với nội dung như sau :
Chương 1- 舟船以前的渡水浮具 (Zhōu chuán yǐqián de dù shuǐ fú jù) Dụng cụ nổi để sang sông trước khi có thuyền
Chương 2- 独木舟及其中国的遗存(Dú mùzhōu jí qí zhōngguó de yícún) Thuyền độc mộc và di sản của chúng tại Trung Quốc
Chương 3- 木板船及上古的舟船活动(Mùbǎn chuán jí shànggǔ de zhōu chuán huódòng) Thuyền gỗ và các hoạt động thuyền bè thời thượng cổ
Chương 4- 春秋战国时代的造船技术(Chūnqiū zhànguó shídài de zàochuán jìshù)Kỹ thuật đóng thuyền thời Xuân Thu Chiến Quốc
Chương 5- 秦代水陆交通的发展及船舶(Qín dài shuǐlù jiāotōng de fǎ zhǎn jí chuánbó) Sự phát triển của giao thông thủy bộ và đóng tàu đời nhà Tần
Chương 6-汉代的海上丝绸之路与船舶( Hàndài dì hǎishàng sīchóu zhī lù yǔ chuánbó) Con đường tơ lụa và thuyền bè đời nhà Hán
Chương 7- 三国两晋南北朝时期的造船技术发明(Sānguó liǎngjìn nánběicháo shíqí de zàochuán jìshù fāmíng) Những phát minh về kỹ thuật đóng tàu thời Tam Quốc, Lưỡng Tấn và Nam Bắc Triều
Chương 8- 隋唐时代的造船技术成就(Suítáng shídài de zàochuán jìshù chéngjiù) Thành tự kỹ thuật đóng tàu thời Tùy Đường
Chương 9- 宋代造船技术的发展与成熟(Sòngdài zàochuán jìshù de fǎ zhǎn yǔ chéngshú) Sự phát triển và thành thục của kỹ thuật đóng thuyền đời Tống
Chương 10-元承宋制的 元代造船业 (Yuán chéng sòng zhì de yuán dài zàochuán yè) Sự nghiệp đóng tàu đời Nguyên trong đời Tống (??)
Chương 11- 明代造船业的繁盛( Míngdài zàochuán yè de fánshèng) Sự phát triển rực rỡ ngành đóng tàu đời Minh
Chương 12- 海禁与中国造船业衰落(Hǎijìn yǔ zhōngguó zàochuán yè shuāiluò) Bế quan tỏa cảng và sự suy thoái của đóng tàu Trung Quốc
Tịch Long Phi

Tịch Long Phi
Tịch Long Phi



Qua trong cuốn sách củaVương Quán Trác cho ta thấy :

Hính 51 (1-góc trái)-trên trống đồng thứ 1 đào năm 1955 tại Thạch Trại Sơn Tấn Ninh Vân Nam ( 云南晋宁石寨山 )

Hình 52 (2-góc trái)- như trên

Hình 53 (3-trái) - trên trống đồng đào năm 1975 tại La la Xung Hội Lý Tứ Xuyên (四川会理罗罗冲 Sichuan Huili Luoluochong)

Hình 54 (4-trái)-như trên

Hình 55- (bên phải) trên trống đồng thứ 13 đào thấy tại Thạch Trại Sơn năm 1955



Hình 67 : trên - ghi là 汉据 (Hàn jù hán cứ -theo kiểu Hán )Thuyền trên trống đồng Ngọc Lũ 玉镂Yù lòu Hình 67 giữa và dưới - hình thuyền trên trống đồng thứ 14 tại Thạch Trại Sơn năm 1955.

Ta có bảng sau đây : 

 Nơi đào được

 Tên gọi
 Thời đại
 Vị trí

La Bạc Loan , Quý Châu Quảng Tây
广西贵州罗泊湾

Guǎngxi guìzhōu luō pō wān
"百廿斤" 铭文铜鼓船图 (Bǎi niàn jīn míngwén tónggǔ chuán tú)
Tây Hán 
船尾一梢
Chuánwěi yī shāo
Mộ vua Nam Việt Quảng Châu 
广州南越王墓Guǎngzhōu nányuè wáng mù
铜提简船图
Tóng tí jiǎn chuán tú
Tây Hán
船尾一梢
Chuánwěi yī shāo
Thạch Trại Sơn Tấn Ninh Vân Nam 
云南晋宁石寨山
铜鼓船图
tónggǔ  chuán tú
Hàn
船尾一梢
Chuánwěi yī shāo
A  Chương Trại tại Quảng Nam Vân Nam
云南广南阿章
铜鼓船图
tónggǔ  chuán tú
Hán
船尾一梢
Chuánwěi yī shāo
 广西西林普驮
Guǎngxi xīlín pǔ tuó
铜鼓船图
tónggǔ  chuán tú
Hán
船尾一梢
Chuánwěi yī shāo
Quận Đằng Sơn Đông
 山东滕县
Shāndōng téng xiàn
石刻苇束船图
Shíkè wěi shù chuán tú
Hán
船首船尾名一梢
Chuánshǒu chuánwěi míng yī shāo
 Nghi Nam Sơn Đông
山东沂南
Shāndōng yí nán
石刻船图
Shíkè chuán tú
Hán
船尾一梢
Chuánwěi yī shāo


Hình 70 (trên) và 71 (dưới ) -


Cuốn sách của Vương viết : 4. 广西玉镂铜鼓上的船图,尾部 也有桨形舵 (图 67, 又见图64)。四条资料说明了从桨到舵的演化, 也说明在桨形舵出现后仍有以桨代舵者. (Guǎngxi yù lòu tónggǔ shàng de chuán tú, wěibù yěyǒu jiǎng xíng duò (tú 67, yòu jiàn tú 64). Sìtiáo zīliào shuōmíngliǎo cóng jiǎng dào duò de yǎnhuà, yě shuōmíng zài jiǎng xíng duò chūxiàn hòu réng yǒu yǐ jiǎng dài duò zhě) 4- Hình thuyền trên trống đồng Ngọc Lũ Quảng Tây , phần đuôi cũng có lái hình bơi chèo (hình 67 , xem thêm hình 64) . Bốn dữ liệu nói trên cho ta thấy sự tiến hóa từ bơi chèo tới cái lái, và cũng cho ta thấy rằng sau khi xuất hiện lái kiểu bơi chèo thì cũng vẫn là lái bơi chèo .
广州德庆东汉墓出土的陶船,尾舱后壁有圆形穿孔, 孔之两侧各有托架Guǎngzhōu dé qìng dōnghàn mù chūtǔ de táo chuán, wěi cāng hòu bì yǒu yuán xíng chuānkǒng, kǒng zhī liǎng cè gè yǒu tuō jià Con thuyền gốm đào thấy tại mộ đời Đông Hán tại Đức Khánh Quảng Châu, vách phía sau khoang lái có khoét răng hình tròn , hai bên lỗ có giá gia cường .


Còn cuốn sách của Tịch Long Phi

Trên trang Bảo tàng của Đại học Giao thông Thượng Hải có hình thuyền trên trống đồng và lời bình như sau :


中国人在划桨的基础上发明了可不出水面作连续划水、兼具推进和操纵两种功能的属具--橹,提高了推进效率,一根橹可以代替几枝桨,有"轻橹健于马"和"一橹三桨"之说。在西汉铜鼓上就有摇尾橹的楼船纹 Người Trung Quốc trên cơ sở chiếc bơi chèo đã phát minh ra chiếc nụ liên tục nằm dưới nước để  quạt nước , kết hợp cả hai động năng đẩy thuyền tiến và lái thuyền , nâng cao hiệu quả của việc đẩy thuyền , một cái nụ có thể thay thế cho vài cái mái chèo, như người ta nói " khinh lỗ kiện vu mã" và "nhất lổ tam tưởng" tức là " nụ nhẹ thuyền nhanh như ngựa " hoặc " một nụ ba chèo" . Trên trống đồng Tây Hán có hình lâu thuyền với nụ tại đuôi thuyền.



Người Nhật phát triển Hán ngữ hiện đại

Bài của Nguyễn Hải Hoành 

Việt Nam, Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên chịu ảnh hưởng rất lớn của văn hóa Trung Quốc (TQ), thời xưa đều từng mượn chữ Hán của người TQ làm chữ viết cho nước mình trong nhiều nghìn năm, làm nên Vành đai văn hóa Hán ngữ. Nhưng người Nhật không chỉ vay mượn một chiều mà từ cuối thế kỷ 19 còn dùng chữ Hán để sáng tạo ra nhiều từ ngữ mới tương ứng với các khái niệm khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội-nhân văn hiện đại trong văn minh phương Tây. Những từ ngữ chưa từng có trong Hán ngữ ấy lại du nhập về TQ, trở thành một phần quan trọng trong Hán ngữ hiện đại của người TQ, được người TQ, Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc sử dụng một cách phổ biến và quen thuộc tới mức rất nhiều người không biết đó là những từ ngữ đến từ Nhật mà vẫn tưởng là của TQ.

Cũng mượn dùng chữ Hán như người Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc, nhưng người Nhật đã có những sáng tạo đáng khâm phục như vậy, đó là do họ đặc biệt có năng lực học tập và tiếp thu văn hóa nước ngoài, có tinh thần mạnh dạn đổi mới. Một số học giả TQ ước tính các từ ngữ do người Nhật sáng tạo chiếm khoảng 70% tổng số từ ngữ hiện dùng trong Hán ngữ ngày nay. Nói cách khác, trong các khái niệm người TQ và Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc dùng để suy nghĩ, nói và viết, có 70% là do người Nhật tạo ra. Điều đó cho thấy trong 100 năm qua, người Nhật đã có ảnh hưởng lớn tới tư duy của người TQ. Họ đã làm phong phú Hán ngữ, góp phần rất quan trọng giúp TQ và các nước trong vành đai văn hóa Hán ngữ nhanh chóng tiếp thu văn minh phương Tây, đẩy mạnh tiến trình lịch sử về cải cách xã hội và văn hóa, chính trị, tiến lên con đường hội nhập quốc tế. Trở thành nước xuất khẩu Hán ngữ hiện đại, Nhật đã đóng vai trò cầu nối TQ và Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc với văn minh phương Tây. Những sáng tạo ngôn ngữ của họ rất đáng để chúng ta nghiên cứu học tập.

Dân tộc Nhật thời cổ không có chữ viết. Thời Chiến Quốc, chữ Hán truyền vào Nhật. Năm 600, Nhật Hoàng lần đầu tiên cử sứ giả triều đình sang thăm TQ thời nhà Tùy, kèm theo nhiều học sinh sang tìm hiểu, học tập về thể chế chính trị xã hội, giáo dục, văn hóa TQ. Thời Đường, từ năm 630 đến năm 894 đã có gần 20 đoàn sứ giả Nhật sang TQ học tập. Họ học lấy học để mọi cái hay cái tốt của văn hóa Hán và mang về nước nhiều thứ, như kỹ thuật xây dựng, chế tạo vật liệu, luyện kim… rất nhiều thư tịch chữ Hán, nhất là thư tịch Phật giáo. Từ đó người Nhật bắt đầu mượn chữ Hán làm chữ viết cho nước mình, nhưng đọc theo âm tiếng Nhật và viết theo trật tự từ tiếng Nhật. Họ làm thế được vì chữ Hán là chữ biểu ý (chữ ghi ý, ideograph), có thể đọc theo những âm khác nhau. Nhưng vì thứ chữ này không ghi âm được tiếng mẹ đẻ nên lúc đầu người Nhật chỉ dùng chữ Hán để viết, coi là thứ chữ của tầng lớp quan lại, quý tộc, trí thức, chủ yếu dùng trong công việc hành chính và văn học.

Thế kỷ 10, người Nhật sáng tạo ra chữ viết riêng của họ, gọi là chữ Kana (chữ Hán-Việt là Giả danh), là những ký tự ghi âm tiếng Nhật, một loại chữ cái biểu âm bản thân không có ý nghĩa gì, được tạo ra từ một phần của chữ Hán, đơn giản hơn chữ Hán. Mới đầu chữ Kana được dùng để phiên âm chữ Hán, về sau phát triển hình thức kết hợp cả hai thứ chữ.

Cuối thế kỷ 19, trong quá trình giao lưu với phương Tây, người Nhật thấy việc dùng các từ ngữ văn ngôn của Hán ngữ TQ khó có thể biểu đạt được các khái niệm mới của văn hóa phương Tây. Vì thế một số học giả Nhật đã vận dụng vốn hiểu biết sâu sắc chữ Hán, tiến hành cải tạo từ ngũ cũ và tạo ra nhiều từ ngữ mới không có trong Hán ngữ, hoặc có nhưng với ý nghĩa khác, để thể hiện các khái niệm mới, sự vật mới chưa từng có trong văn hóa TQ. Ví dụ các từ hy vọng, trường hợp, phương châm, quyền uy, chi bộ, tôn giáo, dẫn độ, thủ tục…. tổng cộng ngót nghìn từ ngữ ngày nay người TQ quen dùng đều là do người Nhật tạo ra.

Người Nhật còn đi đầu trong việc đơn giản hóa (bớt nét) những chữ Hán nhiều nét. Về sau người TQ đã tiếp thu cải tiến này và tiến hành đơn giản hóa chữ Hán với quy mô lớn, tạo ra hàng nghìn chữ giản thể (simplified character). Đại lục TQ hiện chỉ dùng chữ giản thể, không dùng chữ phồn thể (chữ đủ nét, complex character) như Hong Kong, Đài Loan.

Các sáng tạo của người Nhật đã góp phần không nhỏ phát triển, hoàn thiện Hán ngữ và được TQ (sau đó là Triều Tiên, Việt Nam) tiếp thu, sử dụng nhuần nhuyễn tới mức ít ai biết đó là thành tựu của người Nhật. Không rõ vì sao các từ điển chữ Hán do TQ xuất bản đều không ghi xuất xứ Nhật của những từ đó. Gần đây các học giả TQ xới lại vấn đề này, nhưng một số người TQ có ý hạ thấp hoặc phủ nhận cống hiến của người Nhật.

Không thể phủ nhận, Nhật đã có ảnh hưởng tới TQ trên nhiều mặt, quan trọng nhất là đã có tác dụng mở ra cánh cửa giúp TQ tiếp xúc với văn minh phương Tây.

Thời Minh Trị (Meiji era, 1868-1912), Nhật đẩy mạnh mở cửa tiếp thu văn minh phương Tây chứ không đóng cửa “bế quan tỏa quốc” như TQ, Việt Nam. Khi thấy được tính ưu việt của văn minh phương Tây, người Nhật bèn dứt khoát bỏ ngay ông thầy Tàu mà họ đã học mấy nghìn năm để học ông thầy Tây, ồ ạt cử thanh niên sang Âu Mỹ học tập, giới trí thức Nhật say sưa đọc và dịch hầu như toàn bộ các sách có tính khai sáng của Âu Mỹ. Rất nhiều khái niệm mới, phần lớn là khái niệm trừu tượng, được họ dịch ra chữ Hán, qua đó phát huy được tác dụng biểu ý thâm sâu vốn có của chữ Hán (trong khi bán đảo Triều Tiên, Việt Nam bắt đầu loại bỏ chữ Hán). Giới học giả Nhật đã chuyển ngữ sang chữ Hán một cách rất hiệu quả những từ ngữ phương Tây thể hiện các khái niệm mới người châu Á chưa từng biết, chủ yếu về y học, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội-nhân văn.

Năm 1898, hai học giả lớn đại biểu phái Duy tân TQ là Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đến Nhật. Trong thời gian ở đây, Khang Hữu Vi đã dịch sách Nhật và ra một tờ báo chữ Hán phát hành về TQ, trong đó ông đã dùng các từ chữ Hán do người Nhật sáng tạo.

Nước Nhật sau chiến thắng tiêu diệt hạm đội Nga tại eo biển Tsushima (1904) đã trở thành tấm gương sáng của châu Á. Giới tinh hoa TQ đua nhau sang Nhật học tập, hoạt động: Tôn Trung Sơn, Chu Ân Lai, Lỗ Tấn, Tưởng Giới Thạch, Quách Mạt Nhược… Hầu hết các nhân vật chủ chốt của phong trào Tân Văn hóa TQ đều từng học ở Nhật. Họ đã mang về nước những từ ngữ chữ Hán được người Nhật chuyển ngữ từ ngôn ngữ phương Tây. Ví dụ chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Marx, triết học, … Từ ngoại lai nguồn gốc Nhật ồ ạt tràn vào TQ. Người TQ tiếp thu gần như toàn bộ số từ này và lâu ngày biến thành từ Hán ngữ 100%. Các thế hệ người TQ về sau hầu như không thể biết các từ ngữ đó là do người Nhật sáng tạo.

Thời ấy TQ cũng bắt đầu dịch sách của phương Tây. Hồi đó các học giả TQ có ba quan điểm về vấn đề này: 1. Người TQ nên cố hết sức tự phiên dịch, không nên du nhập vô điều kiện các từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật. 2. TQ nên mượn dùng từ ngữ người Nhật đã dịch. 3. Nên dịch âm, tức phiên âm tiếng nước ngoài mà không dịch nghĩa.

Tiêu biểu cho quan điểm thứ nhất là Nghiêm Phục (Yan Fu, 1853-1921), nhà tư tưởng, nhà phiên dịch nổi tiếng từng học ở Anh, người đề xuất lý luận Tín, Nhã, Đạt có ảnh hưởng lớn trong giới phiên dịch ở TQ. Ông đã dịch cuốn Evolution and Ethics (Tiến hóa và Đạo đức, của Thomas Huxley), lấy tên sách là Thiên diễn luận, lần đầu tiên giới thiệu cho người TQ biết một lý thuyết khoa học tiên tiến: thuyết Tiến hóa. Trong quá trình dịch, do quá chú trọng Nhã (là yêu cầu khó nhất), nhiều từ do ông dịch tỏ ra tối nghĩa khó hiểu, không được dư luận TQ chấp nhận sử dụng.

Học giả nổi tiếng Vương Quốc Duy (Wang Guo-wei, 1877-1927) đại diện quan điểm nên dùng từ ngoại lai gốc Nhật, nhằm tiết kiệm công sức cho người TQ. Theo ông, người Nhật dịch quá hay, trong khi người TQ dịch thiếu sáng tạo. Quan điểm trên được thực tế chứng minh là đúng: người TQ (và cả VN, Triều Tiên) đều dùng các từ Nhật dịch.

Trương Sĩ Chiêu (Zhang Shi-zhao, 1881-1973, từng học ở Nhật và Anh) đại diện cho chủ trương phiên âm từ ngữ tiếng nước ngoài, nhưng vì những từ phiên âm đó đọc không thuận miệng nên về sau cũng đều bị đào thải. Ví dụ telephone TQ dịch âm là德律风 [de lu feng], sau phải nhường chỗ cho từ điện thoại do Nhật dịch. Người Nhật cũng có chủ trương dịch âm, ví dụ từ club họ dịch sang Hán ngữ là câu lạc bộ, rất đạt cả về âm, hình, ý. Nhưng cũng có những từ Nhật dịch không được TQ chấp nhận, như cholera (dịch tả), Nhật dịch âm là虎列拉 [hu lie la], được TQ dùng khá lâu nhưng về sau thay bằng từ 霍乱 [hu luan] do TQ dịch. Hoặc logic Nhật dịch là luân lý, xem ra không đạt; về sau Nghiêm Phục dịch là逻辑 [luo ji], đạt cả về âm, hình, ý. Từ này về sau đã truyền vào Nhật.

Giới học giả Nhật chủ yếu dùng hai cách sau để dịch từ ngữ phương Tây:
Gán thêm hàm nghĩa mới vào những từ ngữ có sẵn trong Hán ngữ, dần dần làm các từ ngữ đó mất ý nghĩa cũ. Ví dụ Nhật dùng xã hội dịch từ society; trong Hán ngữ cổ, xã hội là nói việc tụ tập cúng tế vào mùa, mùa thu. Nhật cũng dùng từ dân chủ trong từ ngữ thứ dân chi chủ tể庶民之主宰để dịch khái niệm democracy hoàn toàn ngược lại.
Sáng tạo từ ngữ chữ Hán hoàn toàn mới, cách này dùng nhiều nhất. Khi từ ngữ phương Tây không có khái niệm tương ứng trong Hán ngữ, người Nhật bèn tự đặt ra từ chữ Hán mới. Ví dụ nổi tiếng nhất là từ điện thoại đã thay cho từ 德律风. Các danh từ trừu tượng lại càng nhiều, như dân tộc, cá nhân, khoa học, triết học…

Có thể thấy người Nhật có xu hướng ưa dùng từ kép (song tự từ) gồm hai chữ, có ưu điểm ngắn gọn, dễ nhớ, ví dụ nhân dân, phục vụ, chính phủ, cán bộ…

Thực ra khi tiếp xúc với các nguyên tác của phương Tây, người TQ cũng đã dùng tư duy của mình để sáng tạo một số khái niệm. Điển hình là Nghiêm Phục. Ví dụ economy, người Nhật dịch là kinh tế, ông dịch là kế học (计学). Evolution Nhật dịch là tiến hóa, ông dịch là thiên diễn (天演). Philosophy Nhật dịch là triết học, ông dịch là lý học (理学). Capital Nhật dịch tư bản, ông dịch mẫu tài (母材). Metaphysics Nhật dịch hình nhi thượng học (形而上学), ông dịch huyền học (玄学)… Nghiêm Phục từ chối dùng từ xã hội (Nhật dịch từ society), mà ông dịch là quần (群), xã hội học là quần học (群学). Người TQ cho rằng cách dịch nói trên của Nghiêm Phục chưa hợp lý. Có lẽ người Việt chúng ta cũng nghĩ như vậy.

Rốt cuộc các từ dịch của Nhật giản đơn dễ hiểu nên được người TQ ưa dùng hơn. Từ đó các từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật biến thành từ TQ. Vương Quốc Duy cho rằng cách dịch của Nghiêm Phục sở dĩ không được dư luận chấp nhận, chủ yếu do ông quá chú trọng nhã, chú trọng văn dịch phải đẹp, dùng những từ Hán cổ khó hiểu. Tuy vậy, Nghiêm Phục vẫn chấp nhận một số từ Nhật dịch, ví dụ tự do (dịch từ liberty và freedom).

Có học giả TQ đặt vấn đề: Cùng một thuật ngữ phương Tây khi đến TQ và Nhật được dịch thành hai loại từ có mùi vị khác xa nhau, cuối cùng kết thúc bằng việc từ TQ dịch (Trung dịch) thua, từ Nhật dịch (Nhật dịch) thắng. Tại sao lại như vậy, điều này rất đáng suy ngẫm!

Năm 1898, Lương Khải Siêu dịch tiểu thuyết Nhật “Giai nhân chi kỳ ngộ” ra Hán ngữ, đánh dấu sự bắt đầu du nhập TQ của các từ ngoại lai đến từ Nhật. Năm 1998, nhân kỷ niệm 100 năm sự kiện này, một số học giả TQ đặt câu hỏi: Trong thời gian ấy nếu không sử dụng các từ ngoại lai gốc Nhật mà chỉ dùng những từ do Nghiêm Phục dịch, thì người TQ hiểu và suy nghĩ như thế nào về các khái niệm du nhập từ văn minh phương Tây? Và điều đó có ảnh hưởng ra sao tới tiến trình lịch sử của TQ? Cụ thể, nếu các khái niệm chính trị, kinh tế, văn hóa, cách mạng, giai cấp, xã hội chủ nghĩa, tư bản chủ nghĩa… đổi sang một phương thức khác xuất hiện trước mắt người TQ, phải chăng sự hiểu biết, cảm thụ của người TQ đối với các khái niệm đó sẽ có biến đổi?

Chữ Hán là của người TQ, người Nhật chỉ mượn dùng. Nhưng khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, người Nhật dám mạnh dạn dịch từ ngữ chữ Tây ra chữ Hán-Nhật, còn người TQ thì ngại làm điều đó, chủ yếu do người TQ có tâm lý không dám động đến chữ Thánh hiền của tổ tiên mình. Mặt khác vì nhà nước Nhật đối ngoại thi hành chính sách mở cửa hòa nhập, học cái hay cái tốt của thế giới, đối nội đẩy mạnh giáo dục quốc dân. Trái lại phong kiến TQ vốn cho mình là trung tâm tinh hoa thế giới, coi thường người nước ngoài, đối ngoại thi hành chính sách đóng cửa, đối nội thi hành đường lối ngu dân, dĩ nhiên không khuyến khích học phương Tây, vì thế tất nhiên TQ đi sau Nhật về mặt dịch ngôn ngữ Âu Mỹ.

Ban đầu các học giả Nhật cũng chưa thống nhất cách dịch từ ngữ phương Tây. Ví dụ từ literature họ dịch là văn chương học và văn học, sau cùng văn chương học bị đào thải. Từ art mới đầu dịch là nghệ thuật/ mỹ thuật/ văn học kỹ nghệ, mãi cho tới đầu thế kỷ 20 từ nghệ thuật mới chiếm vị trí thống lĩnh. Từ individual vất vả hơn cả, mới đầu dịch là nhất cá nhân, sau dịch là độc nhất giả/ nhân/ độc nhất cá nhân/ tư nhân… mấy từ này đồng thời được dùng trong một thời gian dài, cuối cùng từ cá nhân thắng.

Nhưng từ nửa cuối thế kỷ 20 trở đi, khi cần chuyển ngữ các từ ngữ phương Tây, người Nhật lại ngại chuyển sang chữ Hán (là loại chữ biểu ý khó học khó nhớ) mà dùng cách dịch âm và thể hiện bằng chữ Katakana, một loại chữ biểu âm (chữ ghi âm, phonography). Ví dụ: máy tính họ dùng computer, nhà báo dùng journalist, thịt cừu dùng lamb, và rất nhiều từ khác như bus, taxi, sex, fax, pizza, goods … Người nước ngoài biết tiếng Anh chỉ cần biết các chữ cái Katakana là có thể đọc hiểu khá nhiều từ tiếng Nhật. Một số học giả TQ cũng tán thành cách chuyển ngữ như vậy, vì đỡ mất công suy nghĩ chọn từ chữ Hán; vả lại tiếng Anh đã quốc tế hóa trên toàn cầu.

Từ thập niên 70 thế kỷ 20 tới nay là thời kỳ từ ngoại lai nguồn gốc Nhật lần thứ hai du nhập vào TQ. Sau khi TQ lập quan hệ ngoại giao với Nhật (1972) và bắt đầu cải cách mở cửa, nhiều từ tiếng Nhật, cách dùng từ, phương thức biểu đạt của người Nhật bắt đầu xuất hiện trong tiếng TQ, như 卡拉OK (Karaoke), 料理 (món ăn), 写真 (tả thật, vẽ chân dung), 欧巴桑 (obasan, từ chỉ phụ nữ trung niên trở lên), 卡哇伊 (kawayi, đáng yêu) v.v… Sự du nhập ấy ban đầu qua Hong Kong, Đài Loan, hiện nay trực tiếp vào TQ qua mạng Internet. Hầu hết các từ ngoại lai nguồn gốc Nhật gần đây du nhập vào TQ đều có liên quan với ACG (Animation, Comic, Game: phim hoạt hình, tranh hoạt họa, trò chơi máy tính), chủ yếu do giới trẻ TQ chủ động tiếp thu. Qua đó đã làm giàu vốn từ và sức biểu đạt của Hán ngữ, đồng thời các khái niệm và tư tưởng mới cũng du nhập vào TQ.

Một số học giả TQ khẳng định sự ồ ạt du nhập các từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật đã ảnh hưởng tới tiến trình lịch sử hơn 100 năm qua của TQ. Họ cũng tranh luận về mức độ ảnh hưởng của nguồn từ ngoại lai đó. Bài Vấn đề “Từ ngoại lai” Nhật ngữ trong Hán ngữ hiện đại của GS Vương Bân Bân (Wang Bin-bin) ở Khoa Trung văn ĐH Nam Kinh đăng trên tạp chí Văn học Thượng Hải số 8/1998 khẳng định 70% danh từ, thuật ngữ thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hiện nay TQ dùng là nhập từ Nhật. “Trên thực tế, nếu rời khỏi các từ ngoại lai Nhật ngữ thì ngày nay chúng ta gần như không thể nói chuyện được” – ông viết.

Hiện tượng các từ ngữ chữ Hán do người Nhật sáng tạo ồ ạt du nhập TQ và được người TQ dễ dàng tiếp nhận cho thấy văn hóa Nhật có sức đồng hóa rất mạnh. Có học giả TQ cho rằng nếu trong Thế chiến II Nhật chiếm được toàn bộ TQ thì có lẽ người TQ đã biến thành người Nhật. Quả thật điều đó đã xảy ra sau khi đảo Đài Loan bị sáp nhập vào nước Nhật (1895-1945). Cựu Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy (sinh 1923) nói 30 năm đầu ông là người Nhật. Thậm chí có người Đài Loan không nói được tiếng Đài Loan, chỉ nói tiếng Nhật.

Một số dân mạng TQ cho rằng nói từ ngữ ngoại lai gốc Nhật chiếm tỷ lệ 70% là nịnh bợ Nhật, là hủy hoại nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm; họ khó chấp nhận kết luận “Trung dịch thua, Nhật dịch thắng”. Ngược lại, nhiều học giả TQ cho rằng chẳng có gì đáng xấu hổ khi thừa nhận đóng góp của người Nhật đối với sự phát triển Hán ngữ.

“Hiện đại Hán ngữ Đại từ điển” chia từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật làm hai loại: 1- Loại người Nhật mượn dùng các từ Hán ngữ cổ đã có của TQ nhưng gán hàm nghĩa mới và cách dùng mới, như cách mạng, kinh tế, văn hóa …; 2 – Loại do người Nhật dùng chữ Hán tự sáng tạo, như mỹ thuật, trà đạo, thủ tục…

“Hán ngữ Ngoại lai ngữ từ điển” xuất bản năm 1984 thống kê được 772 từ ngoại lai có gốc Nhật, phần lớn thuộc loại thứ nhất, nhưng nhiều người không tán thành, vì từ ngoại lai gốc Nhật có ý nghĩa khác hẳn từ Hán ngữ cổ. Ví dụ kinh tế, Hán ngữ cổ là kinh thế tế dân, ý nói sự quản trị quốc gia. Trong Hán ngữ hiện đại, kinh tế là các hoạt động sản xuất xã hội, lưu thông, trao đổi.

Bài Nghiên cứu ngoại lai ngữ trong Hán ngữ hiện đại của Cao Minh Khải và Lưu Chính Viêm cho rằng Hán ngữ hiện đại có 459 từ ngoại lai nguồn gốc Nhật. Những từ này hiện đã mọc rễ ở TQ, chủ yếu vì người Nhật dùng từ rất khôn khéo, nhất trí với quy tắc tạo từ của Hán ngữ, dễ hiểu, dễ ghi nhớ và phổ cập. Không ít từ ngoại lai Hán ngữ vốn có cũng bị từ ngoại lai gốc Nhật thay thế. Ví dụ: hợp điểm thay bằng phân tử; giới thuyết bằng định nghĩa; minh giác tráo/ nhãn minh y – giác mạc; nguyên hành chất, nguyên chất – nguyên tố; hoa tinh/ hoa tinh phấn/ tu phấn – hoa phấn …

——————

Dưới đây là những ví dụ về một số từ ngoại lai nguồn gốc Nhật thường gặp, do GS Trần Sinh Bảo ở Đại học Ngoại quốc ngữ Thượng Hải thống kê, phân loại; chúng tôi chỉ ghi chú kèm những từ đã có từ Hán-Việt tương ứng:
Từ tu sức + từ được tu sức:

(1) Hình dung từ + danh từ. Ví dụ: 人权 nhân quyền, 金库, 特权 đặc quyền, 哲学 triết học, 表象 biểu tượng, 美学 mỹ học, 背景 bối cảnh, 化石 hóa thạch, 战线 chiến tuyến, 环境 hoàn cảnh, 艺术 nghệ thuật, 医学 y học, 入场券, 下水道, 公证人, 分类表, 低能儿.

(2) Phó từ + động từ. Ví dụ: 互惠, 独占 độc chiếm, 交流 giao lưu, 高压, 特许, 否定 phủ định, 肯定 khẳng định, 表决 biểu quyết, 欢送, 仲裁 trọng tài, 妄想, 见习 kiến tập, 假释, 假死, 假设 giả thiết.
Từ phức hợp đồng nghĩa:

Ví dụ: 解放 giải phóng, 供给 cung cấp, 说明 thuyết minh, 方法 phương pháp, 共同 cộng đồng, 主义 chủ nghĩa, 阶级 giai cấp, 公开 công khai, 共和 cộng hòa, 希望 hy vọng, 法律 pháp luật, 活动 hoạt động, 命令 mệnh lệnh, 知识 tri thức, 综合 tổng hợp, 说教 thuyết giáo, 教授 giáo thụ, 解剖 giải phẫu, 斗争 đấu tranh.

III. Động từ + tân ngữ:

Ví dụ: 断交, 脱党, 动员 động viên, 失踪, 投票 đầu phiếu, 休战, 作战 tác chiến, 投资 đầu tư, 投机 đầu cơ, 抗议 kháng nghị, 规范 quy phạm, 动议, 处刑.
Từ phức hợp do các đơn từ kể trên họp thành:

Ví dụ: 社会主义 xã hội chủ nghĩa, 自由主义 tự do chủ nghĩa, 治外法权 trị ngoại pháp quyền, 土木工程, 工艺美术 công nghệ mỹ thuật, 自然科学 tự nhiên khoa học, 自然淘汰 tự nhiên đào thải, 攻守同盟, 防空演习 phòng không diễn tập, 政治经济学 chính trị kinh tế học, 唯物史观 duy vật sử quan, 动脉硬化, 神经衰弱 thần kinh suy nhược, 财团法人 tài đoàn pháp nhân, 国际公法 quốc tế công pháp, 最后通牒 tối hậu thông điệp, 经济恐慌 kinh tế khủng hoảng.

Ngoài ra còn có: Động từ: 服从 phục tùng, 复习, 支持, 分配 phân phối, 克服 khắc phục, 支配 chi phối, 配给…

Khái niệm cơ bản về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội: 哲学 triết học, 心理学 tâm lý học, 论理学 luân lý học, 民族学 dân tộc học, 经济学 kinh tế học, 财政学 tài chính học, 物理学 vật lý học, 卫生学 vệ sinh học, 解剖学 giải phẫu học, 病理学 bệnh lý học, 下水工学, 土木工学, 河川工学, 电气通信学, 建筑学 kiến trúc học, 机械学 cơ giới học, 簿记, 冶金, 园艺, 和声学 hòa thanh học, 工艺美术…

Từ kết vĩ (结尾词):

(1) 化 hóa: 一元化 nhất nguyên hóa, 多元化 đa nguyên hóa, 一般化, 自动化 tự động hóa, 现代化 hiện đại hóa …
(2) 式 thức: 流动式, 简易式, 方程式, 日本式, 新式…
(3) 炎 viêm: 肺炎 (viêm phổi), 胃炎 (viêm dạ dày), 关节炎 (viêm khớp), 气管炎 (viêm khí quản), 皮肤炎 (viêm da)…
(4) 力 lực (sức): 生产力 (sức sản xuất), 原动力, 想像力 (sức tưởng tượng), 劳动力 (sức lao động), 记忆力…
(5) 性 tính: 可能性, 必然性 (tính tất nhiên), 偶然性(tính ngẫu nhiên), 周期性(tính chu kỳ), 习惯性(tính tập quán)…
(6) 的: 大众的, 民族的, 科学的, 绝对的, 公开的…
(7) 界 giới: 文学界 (giới văn học), 艺术界(giới nghệ thuạt), 思想界(giới tư tưởng), 学术界(giới học thuật), 新闻界…
(8) 型 hình: 新型, 大型, 流线型, 标准型, 经验型…
(9) 感 cảm: 美感, 好感, 优越感, 敏感, 读后感…
(10) 点 điểm: 重点 trọng điểm, 要点 yếu điểm, 焦点 tiêu điểm, 观点 quan điểm, 出发点 (điểm xuất phát), 盲点 (điểm mù)…
(11) 观 quan: 主观 chủ quan, 客观 khách quan, 悲观 bi quan, 乐观 lạc quan, 人生观 nhân sinh quan, 世界观 thế giới quan, 宏观, 微观…
(12) 线 tuyến: 直线, 曲线, 抛物线, 生命线, 战线 chiến tuyến, 警戒线…
(13) 率 suất: 效率 hiệu suất, 生产率, 增长率, 利率 tỷ suất, 频率 tần suất…
(14) 法 pháp: 辨证法 biện chứng pháp, 归纳法 (phép quy nạp), 演绎法 (phép diễn dịch), 分析法 (phép phân tích), 方法 phương pháp, 宪法 hiến pháp, 民法, 刑法…
(15) 度 độ: 进度 tiến độ, 深度, 广度, 强度 cường độ, 力度…
(16) 品 phẩm: 作品 tác phẩm, 食品 thực phẩm, 艺术品, 成品 thành phẩm, 展品, 废品 phế phẩm, 纪念品…
(17) 者 giả: 作者 tác giả, 读者 độc giả, 译者 dịch giả, 劳动者, 缔造者, 先进工作者…
(18) 作用 tác dụng: 同化作用 (tác dụng đồng hóa), 异化作用 (tác dụng dị hóa), 光合作用 (tác dụng quang hợp), 心理作用 (tác dụng tâm lý), 副作用 (tác dụng phụ)…
(19) 问题 vấn đề: 人口问题 (vấn đề nhân khẩu), 社会问题 (vấn đề xã hội), 民族问题 (vấn đề dân tộc), 教育问题 (vấn đề giáo dục), 国际问题 (vấn đề quốc tế)…
(20) 时代 thời đại: 旧石器时代 (thời đại đồ đá cũ), 新石器时代 (thời đại đồ đá mới), 新时代 (thời đại mới), 旧时代 (thời đại cũ)…
(21) 社会 xã hội: 原始社会 (xã hội nguyên thủy), 奴隶社会(xã hội nô lệ), 封建社会(xã hội phong kiến), 资本主义社会(xã hội chủ nghĩa tư bản), 社会主义社会(xã hội XHCN), 国际社会…
(22) 主义 chủ nghĩa: 人文主义 (chủ nghĩa nhân văn), 人道主义 (chủ nghĩa nhân đạo), 浪慢主义 (chủ nghĩa lãng mạn), 现实主义 (chủ nghĩa hiện thực), 帝国主义 (chủ nghĩa đế quốc), 排外主义 (chủ nghĩa bài ngoại)…
(23) 阶级 giai cấp: 地主阶级 (giai cấp địa chủ), 资产阶级 (giai cấp tư sản), 中产阶级(giai cấp trung sản), 无产阶级(giai cấp vô sản)…

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do sống tại Hà Nội.

Thứ Ba, 24 tháng 1, 2017

Khảo sát thuyền ba vách

BÀI ĐANG VIẾT 
Thế là mình thực sự bắt tay vào khảo sát thuyền dân gian , khởi đầu là thuyền ba vách Quảng Ninh .Để có cái nhìn tổng quan, mình đã liên lạc với Nick Burningham và đã bỏ ra 38 đô la mua bài báo của ông về những khảo sát tại Sầm Sơn năm 1993.
I- THU THẬP TÀI LIỆU 
Và trong quá trình thu thập tài liệu , mình nhặt được bài báo này , và chép lại tại đây  Đó là bài báo trích lại từ Đại Đoàn kết, không rõ tác giả :
Ngẩn ngơ tiếc một làng thuyền
(Ngày đăng: 14/09/2014   Lượt xem: 143)
Mới đây, nhằm thực hiện chương trình hợp tác nghiên cứu tàu thuyền truyền thống của Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Viện Nghiên cứu Di sản văn hóa biển Hàn Quốc đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát một số vùng biển ở Việt Nam, đặc biệt là tỉnh Quảng Ninh. Từ chuyến khảo sát, một thực tế được chứng thực rõ hơn, đó là nghề đóng thuyền và kỹ thuật đóng thuyền truyền thống ở vùng này đang dần mai một và có nguy cơ biến mất.



Ở vùng biển Quảng Ninh, nghề đan thuyền nan đã có từ bao đời nay, thuyền nan nhẹ và dễ làm nhưng không bền bằng thuyền gỗ. Tuy nhiên do tự đan được nên các gia đình ngư dân trong vịnh Hạ Long, Bái Tử Long xưa chủ yếu dùng thuyền nan, hộ gia đình nào cũng có thuyền. Con thuyền vừa là nhà ở, vừa là phương tiện đi lại, vừa là phương tiện làm nghề. Thuyền nan cũng được dùng để chuyên chở, đi lại ở nhiều vùng đồng bãi, khênh vác nhẹ nhàng, sử dụng thuận tiện. Ở xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng có một làng nghề đan thuyền nan, thuyền mủng nổi tiếng.

Theo ông Đặng Sơn Tề - người say mê nghiên cứu nghề đan thuyền nan truyền thống - ở thôn Hưng Học, xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng thì dân làng đã làm và sử dụng thuyền nan được 14 - 15 thế hệ. Những con tàu thuyền được sản xuất đầu tiên cách nay khoảng hơn 400 năm. Thuyền nan ở Quảng Yên có hình bầu dục, dài từ 1,2m đến 10m, rộng từ 0,8m đến 4,8m. Nguyên vật liệu chính là tre, gỗ và các sản phẩm sơn phủ (bã thực vật, động vật, sơn…). Thuyền nan được sử dụng chủ yếu trong việc di chuyển, vận tải, đánh bắt thủy hải sản, ma chay, cưới hỏi…Việc đóng một chiếc thuyền nan truyền thống trải qua nhiều công đoạn, gồm: ra nan (sau khi chọn được tre tốt, chẻ ra, tách ruột, chỉ dùng cật tre); đan cốt (có thể đan lóng một hoặc lóng đôi); vào khuôn và cạp viền (khuôn được định hình theo kích thước của thuyền); trát bã (phải dùng phân trâu mới có tác dụng tốt) và sơn phủ (quét nhựa đường trộn với dầu hỏa). Cuối cùng là đóng khung gỗ làm sườn, sạp thuyền và phơi khô. Những nơi có truyền thống đóng thuyền lâu đời và sản xuất cung cấp thuyền cho khu vực phía Bắc là Móng Cái, Vân Đồn và Quảng Yên. Ước tính với giá thành hiện tại, chi phí để đóng một thuyền nan loại nhỏ khoảng hơn 2 triệu đồng.

Chúng tôi có cuộc trao đổi với nghệ nhân Nguyễn Mạnh Quý (69 tuổi), ở phường Hùng Thắng, TP Hạ Long; nghệ nhân học đóng thuyền năm 14 tuổi và là hậu duệ đời thứ 14 trong nghề. Ông là con cháu của cụ Khán Thư có xưởng đóng thuyền nổi tiếng ở làng Giang Võng và Trúc Võng xưa (nay là xã Hùng Thắng và Thành Công, thành phố Hạ Long). Theo nghệ nhân Quý, thuyền gỗ có nhiều loại, thuyền của ngư dân vùng Yên Hưng - Hòn Gai là thuyền "Ba Vách”, thuyền có ba mặt: mặt đáy và hai mặt bên. Trước kia, người dân không sử dụng đinh để đóng thuyền, các tấm nẹp giữ ván thuyền được liên kết lại với nhau bằng những lỗ khoan, dùng dây mây và guộc để làm mối buộc, lấy sắn thuyền để làm sảm, dùng các thanh tre để giữ các đường sảm và nêm chặt các mối buộc (đó là dùng vỏ cây sắn rừng, còn gọi là sắn sơn thuyền, xay nhuyễn, ủ vài ngày để trát cho chất nhựa lấp kín khe hở giữa các nan tre của vỏ thuyền). Khi thuyền ở dưới nước, các thứ này ngấm nước nở ra tạo cho các tấm vách và đáy thuyền liên kết chặt chẽ với nhau. Thuyền ngư dân vùng Giang Võng và Trúc Võng cũng là thuyền Ba Vách nhưng lòng sâu và mũi cao hơn, ở mui thuyền có "văng” để bắt cá, thường gọi là thuyền "cá nóc”.

Việc chọn gỗ để đóng thuyền phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của các hộ ngư dân. Đối với hộ ngư dân có điều kiện kinh tế, họ thường chọn loại gỗ nằm trong "tứ thiết” (đinh, lim, sến, táu), hay gỗ "săng lẻ”, còn với các loại gỗ vườn như Xoan, Nhãn… được dùng nhiều hơn bởi loại gỗ này phù hợp với điều kiện kinh tế của đa số các hộ dân.

Ngư dân ở vùng Đầm Hà, Hải Hà, Móng Cái dùng thuyền Ba Vách lườn bé, thành sâu lái rộng, mũi cao nhọn, thường gọi là "thuyền mũi rắn ráo”, sau lại sửa thành loại thuyền lườn tròn vỏ dưa có lợi thế nông mướn nước, độ cạn thấp, chèo lái nhẹ nhàng, ra vào bến bãi dễ dàng nhưng khi có sóng to thuyền hay bị bạt. Ngư dân vùng Cống Yên, Cô Tô do ngày đêm trực tiếp với sóng biển ngoài khơi nên dùng loại thuyền Cóc, đuôi bằng, có buồm cánh dơi để đánh lưới. Ngư dân Yên Hưng thường dùng buồm vuông, thường được gọi là "buồm kẹo lạc”, cột buồm đặt ở 1/3 cánh buồm và buộc cột một bên dây. Khi chuyển sang thuyền buồm bằng vải, thường buồm trên nhỏ hơn buồm dưới, cá biệt có loại buồm hình vuông, ở trên nhọn.

Do cuộc sống thủy cư, ngư dân coi con thuyền không chỉ là nơi ở, mà còn là phương tiện kiếm sống và đi lại. Tất cả các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của một gia đình đều gắn bó với con thuyền, nên con thuyền còn là tài sản quý và quan trọng đối với ngư dân làng chài. 

Ở Trà Cổ, Bình Ngọc trước đây nổi tiếng với những con thuyền vỏ dưa lườn cao, chuyên vận tải biển, về khả năng chịu sóng gió (có thể đi xuôi ngược trong gió cấp 6, cấp7). Thuyền vận tải Quan Lạn có sức mạnh không kém, sau đó là thuyền vận tải Quảng Yên. Dân đi biển ở Quảng Ninh cũng sáng tạo ra loại thuyền buồm cánh dơi, thuyền hình bán nguyệt. Mỗi cánh buồm được mở căng, ghép lại hay chỉ để lưng chừng với một ít "thép” buồm, khi nào kéo cả hai buồm lại thì thêm buồm mũi, buồm hậu.  Thuyền đi biển thường có trọng tải 25 đến 30 tấn, dài từ 18 đến 25m, rộng từ 3 đến 5m. Thuyền hoạt động ở vùng nước mặn thường bị con hà bám vào đáy, sườn thuyền bằng gỗ hay bị mục và tăng sức cản, ảnh hưởng đến tốc độ di chuyển. Do vậy, thông thường 3 đến 6 tháng, các chủ thuyền cho thuyền "lên đà” (lợi dụng lúc triều cường để cho thuyền vào bãi khi nước còn cao, kê gỗ xuống đáy thuyền, nước triều rút thì thuyền nằm trên giá kê ngoài bãi) để "thui thuyền” (đốt lửa bằng lá thông khô và hun khói để làm chết con hà, làm lì mặt gỗ ván thuyền để kéo dài tuổi thọ cho thuyền). Sau khi thuyền được thui, ngư dân lau sạch mặt ngoài ván thuyền và bôi một lớp dầu như dầu thầu dầu (dầu rái) để chống hà bám và tạo độ trơn, giúp tăng gia tốc cho thuyền.

Có thể nói, trình độ đóng tàu thuyền của dân vùng biển Quảng Ninh đã ở mức hoàn hảo, có khả năng đóng các tàu thuyền lớn, chịu được sóng to gió lớn; tàu thuyền được bảo dưỡng tốt có thể sử dụng được từ 15 đến 20 năm.

Giờ đây, đời sống ngư dân ở Hạ Long đã có nhiều thay đổi, họ vẫn sinh sống trên thuyền nhưng đã thay thế những con thuyền buồm trước kia bằng những thuyền máy, các ngôi nhà nổi trên biển và những con thuyền đánh bắt hải sản truyền thống cũng thưa thớt dần. Hầu như thế hệ hậu duệ của các làng chài nổi hiện nay không còn biết đến các công cụ đóng thuyền truyền thống, họ chỉ được nghe qua lời kể của thế hệ trước. Những du khách trong và ngoài nước từng say đắm trước vẻ đẹp của vịnh Hạ Long, từng mê mải với những cánh buồm của các con thuyền truyền thống trên Vịnh giờ cũng không còn có cơ hội tự mình chụp những tấm ảnh kỷ niệm ấn tượng như vậy. Trong hàng trăm con tàu phục vụ ngành du lịch ở Hạ Long không còn bóng dáng của những con thuyền truyền thống. Chúng ta chỉ còn được thấy hình bóng của chúng trong bưu ảnh tại các cửa hàng lưu niệm hay những mô hình thu nhỏ ở Trung tâm Văn hóa nổi Cửa Vạn Hạ Long mà thôi.

2/ Nghiên cứu của Phạm Thị Hà Xuyên ,bảo vệ Thạc sĩ Dân tộc học, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyển Ngọc Thanh  Nghiên cứu về đánh cá tại xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa Ngư Lộc còn có một số thuyền ba vách, giá khoảng 6-7 triệu đồng, công thêm máy lưới khoảng 12 triệu, thuyền nay dùng để kéo giã hoặc câu gần bờ. 
3/ Ngư Lộc còn có một số thuyền ba vách
II- LÀM VIỆC VỚI LÊ ĐỨC CHẮN (Hồ sơ lưu trong Google Drive) 
- Các loại gỗ dùng đóng con thuyền PHT-Bạch Đằng 01 : 80% tàu , còn lại là cà chít
-
-

III- LÀM VIỆC VỚI ĐĂNG KIỂM VIỆT NAM 




Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016

Hội nghị Vinatest 2016

Sáng thứ bảy, mình cùng Đỗ Hùng Chiến thay mặt Hội Đóng Tàu đi dự Hội nghi Vinatest 2016. Trên FB mình nói đùa  Có cái gì mà không phải tét , phải kiểm mà không cần kiểm , chỉ cần có cái "dzai" /giấy .Lần lượt các hình : Bà Thư chủ tịch Hội mở đầu ; Nguyên Tổng Cục trưởng Vinatest Nguyễn Hữu Thiện và giám đôc Thí nghiệm sinh học nhiệt đới Sơn; TS Pham Ngọc Tuấn DHQG SG giới thiệu phòng thí nghiệm quốc gia về hệ thống .Những thông tin về các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia khá lý thú (đó là chưa tính đền Bể thử tàu Quốc gia đang xây dựng ?) vì nhà nước đầu tư khá đậm về người lẫn thiết bị và liệu các doanh nghiệp hàng hải quốc doanh lẫn tư doanh có thể vươn lên nhờ đứng trên vai những người khổng lồ này ? Tại Hội nghị này , gặp được hai điều lý thú : Ông Phùng , khuyên Hội Đóng Tàu nên tham gia Hội Doanh nghiệp , thuộc VCCI và gặp ông Phó Tổng của Quatest 03 

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

Chuẩn bị du lịch Úc vào dịp cuối năm 2016

Thế là tôi quyết định qua Noel và Tết Dương lịch 2017 tại Úc
1/Chặng đầu : con đường tới Úc 
Ngày Thứ Năm 15/12/2016 chúng tôi rời Tân Sơn Nhất vào lúc 10 giờ 35 bằng máy bay  Air Asia. Có mua 20 kgs hành lý . Sau  2 giờ bay, tới Kuala Lumpur lúc 13 giờ 30 (múi giờ thứ 8) .Đợi tại đây 9 giờ đồng hồ , tới 10 giờ 30 đêm mới bay tiếp . Sau khí bay 9  giờ đồng hồ  , tới 9 giờ 20 sáng ngày Thứ Sáu 16/12/2016 tới sân bay Tullamarine Melbourne, terminal số 2 . Có 4 giờ để làm thủ tục hải quan , an ninh và chuyển tới terminal số 4 nội địa để bay đi Launceston (đọc là lan- xet- tơn) bằng chuyến bay Jetstar Pacific vào lúc 1 giờ 45 chiều . Có mua 25 kg hành lý . Nếu thông đồng bén giọt sẽ tới Launceston vào lúc 2 giờ 50 chiều , sau 1 giờ bay . Tại sân bay Launceston làm thủ tục mua SIM điện thoại dùng trong 20 ngày tại Úc . Chọn Telstra : $10 Pre-Paid SIM Starter Kit ; 6GB Data
Unlimited National Calls & SMS ; Deal: 1GB + 5GB Bonus Dat  Và mua tiền Úc nữa . 1 USD=1,33 AUD .Tức là 1AUD=16K tiền Việt.
       Từ sân bay Launceston về nhà Nguyễn Hùng , địa chỉ 7 Hoblers Bridge Road Newstead TAS 7250 , tức là phía Bắc của sân bay, cách nhau quãng đường 15 km , lái xe chừng 20 phút . Giả dụ Hùng bận ,có thể đi xe bus như sau : xe 740, 700, 28 . Úc có Uber . Ngôi nhà của anh Hùng có trên web : 617 mét vuông , có ba buồng ngủ, xây năm 1952 , được chủ mua năm 2003 với giá hơn 100K nay giá khoảng 274 K đô la. Ảnh nhà Hùng 
7 Hoblers

2/Chặng 2 : Đi Hobart 
 Ngày Thứ hai 19/12/2016 đi Hobart bằng xe bus Tassielink  , bến xe cách nhà 3, 6 km .  Suy nghĩ đi bus vì có thề sáng thứ hai Hùng bận dậy học . Từ nhà đi bộ ra Stop 7 Newstead Shop đón xe 40 tới 86 A St John St , đi bộ một chút tới Cornwall Square . Tại đây đi xe 700 trong 2 giờ 30 phút tới Hydro Building Hobart . Đi bộ 400 mét tới Backpacker Imperial Hostel tại phố 138 Collins . Nhưng xe 700 chỉ có một chuyến buổi sáng khởi hành lúc 9 giờ 30 , giá vé 35 $ /pax !Nếu đi Redline có chuyến 13 giờ và 17 giờ 30 giá vé 83 $ . Vậy quyết định đi sớm vậy ! 
Đón xe 40 ra Cornwall Square
Hôm nay đăng ký Backpacker Imperial đây ! Cuối cùng đăng ký Imperial 3 tối , 2 giường đơn là 2,6 tr VND , không có ăn sáng ! Quanh 138 Collins xem có hàng quán gì ? Quá nhiều mall , thuận tiện mua bán . Và xem luôn cách ra sân bay vào ngày thứ năm 22/12/2016

3/ Chặng thứ 3 : Về Melbourne Chuyến bay Tiger , đăng ký bởi Cheapoair : 38356850; Tiger : N5D1YF ; giá vé 115 usd, khởi hành lúc 10 giờ 10, tới Melbourne lúc 11 giờ . Không thấy nói fee baggage ? Sân bay Hobart cách nhà trọ 18 km . Đi Tassielink từ Hydro Building ? Xe 726 . Về tới MEL, dự định về thẳng nhà cháu Tâm theo địa  chỉ :  41 Cypress Avenue GlenWaverley VIC 3150., cách sân bay 50 km về phía đông nam . Dự kiến hành trình :- Đi Skybus về tới Skybus Coach Terminal .Sau đó chuyền sang ga Southern Cross đi tàu từ ga đó tới ga Blackburn ,bus 703 tới Cypress Ave . Hành trình này cũng phải hơn 2 giờ . Trong thời gian ở Melbourne , cần đi thăm những nơi này :-James Cook House (Fitzroy Garden )
               -Hop On –Hop Off  quanh Melbourne 
Liên lạc với Nguyễn Văn Hiếu, Phan Đình Hùng , Trương Cầm 

4/ Chặng thứ 4 : Đi Sydney - Đến nay chưa vạch ngày đi Sydney nhưng muốn đón Tết Dương Lịch tại nhà hát Con Sò 
5/Chặng thứ 5 : Về Sài Gòn Ngày thứ Bẩy  07/01/2017  Từ Sydney bay Air Asia HCM lúc 11:55 ;  mã : FNB48R tới Kul lúc 17 giờ 30 . Tới 8 giờ sáng Chủ nhật bay tiếp về tới SGN lúc 8 giờ 55  



Thứ Ba, 8 tháng 11, 2016

Sổ tay Tàu cá Trung Quốc

Trong các tài liệu mà Công ty Biển Việt , một công ty thiết kế tàu cá có truyền thống lâu đời của ngành thủy sản , còn lưu giữ có một cuốn :"Sổ tay Thuyền Đánh cá Trung quốc " được biên soạn công phu từ những năm 60 . Đó là tài liệu tham khảo tốt cho những ai làm nghề tàu cá và nghiên cứu thuyền truyền thống của dân tộc ta . Tôi xin chép lại mục lục của cuốn Sổ tay này :

I- THUYỀN CÁ KHU VỰC HOÀNG BỘT HẢI
(1) Khái luận về thuyền cá khu vực Hoàng Bột Hải
(2) Bảng rính năng thuyền cá khu vực Hoàng Bột Hải
(3) Thuyết minh các loại tàu cá khu vực Hoàng Bột Hải
(4) Các bản vẽ :
1- Tàu lưới rê ( 剌网) 
Bản vẽ 1 , Bản vẽ 2, Bản vẽ 3
2- Tàu lưới vây ( 圍 网) Bản vẽ 4-9
3-Tàu lưới kéo (拖网) Bản vẽ 10-12
II-THUYỀN ĐÁNH CÁ KHU VỰC ĐÔNG HẢI
(1) Khái luận về thuyền cá khu vực Đông Hải
(2) Bảng tính năng thuyền cá khu vực Đông Hải
(3) Thuyết minh các loại tàu cá khu vực Đông Hải
(4) Các bản vẽ :
1-Tàu lưới rê( 剌网) 
2-Tàu lưới vây( 圍 网)
3-Tàu lưới kéo(拖网)
4- Tàu lưới cố định (定置网)
5-Các loại tàu khác 
III -THUYỀN ĐÁNH CÁ KHU VỰC NAM HẢI 
1) Khái luận về thuyền cá khu vực Nam Hải
(2) Bảng tính năng thuyền cá khu vực Nam Hải
(3) Thuyết minh các loại tàu cá khu vực Nam Hải
(4) Các bản vẽ :
1-Tàu lưới rê( 剌网) 
2-Tàu lưới vây( 圍 网)
3-Tàu lưới kéo(拖网)
4- Tàu lưới cố định (定置网)
5-Các loại tàu khác 


Thứ Tư, 17 tháng 8, 2016

Tiếp tục về đề tài Guyane .Chép lại lưu trữ

https://vimeo.com/114437934
TTO - Cuối tháng 4-2008, Tuổi Trẻ đã đăng loạt bài gồm 13 kỳ do nhà báo Danh Đức và nhóm phóng viên Tuổi Trẻ thực hiện, về nhà lao An Nam ở xứ Guyane - thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ.
Đề tài tiến sĩ của Pierre Michelon
Pierre Michelon tìm hiểu thông tin, hình ảnh và hiện vật liên quan đến các cựu tù nhân Việt Nam ở Guyane được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Thái Bình - Ảnh: Q.TR.
Loạt bài này đã góp phần khơi dậy một giai đoạn lịch sử, một quãng đời thăng trầm của những nhà cách mạng Việt Nam bị đi đày ở xứ Guyane - nơi rừng thiêng nước độc hoang sơ đã lấy đi mạng sống của không ít người tù.
Vào tháng 6-2016, một cơ duyên nữa tiếp tục mở ra câu chuyện về tù nhân VN ở Guyane qua một người Pháp có tên Pierre Michelon. Lần này, các mảnh ghép câu chuyện về chân dung tù nhân đầy đặn hơn, gần gũi hơn.
Chúng tôi xin được chia sẻ câu chuyện ấy với bạn đọc, với hậu duệ của những tù nhân, với những người quan tâm đến lịch sử.
Bức email tình cờ
Cách đây hơn một năm, vào tháng 3-2015, tình cờ chúng tôi nhận được email của một người Pháp tên là Pierre Michelon.
Anh tự xưng là một nghệ sĩ, xin phép hẹn gặp chúng tôi để trao đổi về một đề tài mà anh đang theo đuổi - đó là câu chuyện về những người tù VN ở Guyane thuộc Pháp những năm 1930.
Thì ra Pierre đã tìm đọc được loạt bài nhà lao An Nam ở Guyane đăng trên báo Tuổi Trẻ năm 2008.
Trong cuộc gặp chóng vánh với chúng tôi, Pierre đã chia sẻ một số tư liệu lưu trữ được tìm thấy ở Pháp về một tù nhân VN bị đày đến Guyane năm 1931 tên là Trần Tử Yến, và ngỏ lời rằng anh sẽ cần đến sự giúp đỡ của chúng tôi nếu anh có dịp quay lại VN để tiếp tục dự án nghiên cứu của mình về cuộc đời những người tù VN bị đi đày ở Guyane.
Sau cuộc gặp năm 2015, cứ lâu lâu Pierre lại gửi cho chúng tôi một bức email để cập nhật tình hình nghiên cứu của mình.
Hóa ra câu chuyện về tù nhân VN ở Guyane là một trong những đề tài nghiên cứu bậc tiến sĩ của anh tại Trường Mỹ thuật Paris.
Một ngày nọ, chúng tôi nhận được tin vui rằng anh đã có được tài trợ của Viện Pháp (French Institute) cho chuyến quay lại VN để tiếp tục nghiên cứu về những người tù.
Anh cũng bày tỏ nguyện vọng được chia sẻ những tài liệu mình tìm được ở Pháp với tất cả những người quan tâm ở VN, với gia đình và hậu duệ của những người cựu tù ở VN, trong đó có gia đình cựu tù Lương Duyên Hồi và Bùi Hữu Diên quê ở tỉnh Thái Bình. (Lương Duyên Hồi là một trong những nhân vật khá đậm nét trong loạt bài của Tuổi Trẻ trước đây).
Pierre kể rằng anh bắt đầu quan tâm đến những hoạt động đấu tranh chống chế độ thuộc địa từ năm 2011. Anh đã đến Guyane thuộc Pháp để tìm hiểu về chế độ này.
Ở đó anh gặp vị bí thư của một đảng ly khai: Đảng Phong trào đẩy lùi chế độ thuộc địa và tiến bộ xã hội. Vị này khuyên anh nên tìm hiểu không chỉ những tù nhân bị đi đày người Pháp, mà còn có tù nhân đi đày từ nhiều vùng khác tới như châu Phi, VN, Trung Quốc...
Tình cờ vị này có một người bà con kết hôn với con gái của người cựu tù VN Trần Tử Yến. Từ đó, Pierre đã tìm cách gặp gia đình của Trần Tử Yến.
Sau khi từ Guyane trở về, Pierre tiếp tục tìm tòi các tư liệu lịch sử về nhà tù thuộc địa ở Guyane và về cá nhân Trần Tử Yến và những người tù khác từ các trung tâm lưu trữ, các nhà nghiên cứu sử học, nhà làm phim và thân nhân những cựu tù.
Anh tin rằng những người tù như Trần Tử Yến và câu chuyện của họ thể hiện một khía cạnh chân thực của lịch sử, về chế độ thuộc địa và những bạo lực và hà khắc của nó mà đôi khi người ta cố tình lãng quên.
Theo đuổi lịch sử bằng nghệ thuật
Trong bản giới thiệu về dự án lịch sử - nghệ thuật của Pierre Michelon về những người cựu tù có đoạn: “Những ngọn gió bẽn lẽn thì thầm thổi tới từ Guyane thuộc Pháp, từ Kanaky (vùng lãnh thổ thuộc Pháp ở Nam Thái Bình Dương, còn gọi là New Caledonia hay Tân Đảo - PV), từ VN, Algeria hay từ Pháp, những tiếng nói cất lên đã bắt đầu thoát ra.
Những tiếng nói này là của những người tù chính trị bị đi đày do quyền lực của chế độ thuộc địa mà họ đã quyết đấu tranh chống lại”.
Tấm màn lịch sử được dệt nên từ những câu chuyện đan chéo nhau qua các khu vực địa lý và các con đường định mệnh đã được kết nối lại.
Nhiều lý tưởng cách mạng và bối cảnh đấu tranh đã được gặp gỡ và từ đó gắn kết với nhau hoặc là chống lại nhau.
Những bức thư bí mật (dù có đến tay người nhận hay không) như những sợi chỉ sáng màu đã giúp xâu chuỗi và dệt nên tấm màn, những câu chuyện về lao động cưỡng bức, những trường hợp đào thoát hoặc mất tích đôi khi nổi lên như những yếu tố gây nhiễu trên bức màn dệt.
Cùng với hậu duệ của những người tù ở Guyane, khi nào có thể và khi họ muốn, Pierre Michelon đang thu thập một xêri các video mang đầy tính thơ, các bản dịch và những ký ức tập thể.
Pierre nói rằng anh lựa chọn con đường làm phim - video nghệ thuật dựa trên những nghiên cứu lịch sử, bởi vì phim ảnh là một công cụ có thể kết hợp nhiều yếu tố, vừa có thể ghi lại thời gian và tình huống, vừa bao gồm âm thanh, hình ảnh.
Nghệ thuật nói chung cho phép anh thoát khỏi những giới hạn của thực tế bằng trí tưởng tượng.
Và đôi khi, thông qua sự kết hợp giữa lối kể chuyện kết hợp hư cấu với những sự kiện, dấu vết lịch sử, người ta có thể đến với một câu chuyện rất gần với bản chất sự thật. Và đó là điều mà anh theo đuổi, tìm kiếm trong nhiều năm qua.
Pierre có mặt tại VN tháng 6-2016, mang theo máy quay phim, những xấp tài liệu dày về những người tù VN mà anh tìm được tại Viện Lưu trữ quốc gia hải ngoại vùng Aix en Provence - Pháp, một số phim và ảnh tư liệu từ một số nguồn khác.
Anh đi cùng với một kỹ sư âm thanh người Việt gốc Pháp, Diane Xuân Lan - cô gái trẻ nhỏ nhắn yêu ẩm thực VN, đặc biệt là nước mắm, và William Trần Tử Yến - anh chàng to lớn với vẻ mặt hiền lành, cháu nội của người cựu tù Trần Tử Yến.
Với một vẻ ngoài lặng lẽ và khiêm tốn, Pierre Michelon dường như rất phù hợp với vai trò nghệ sĩ - nhà nghiên cứu âm thầm lục tìm và xâu chuỗi những câu chuyện gây xúc động từ quá khứ vốn bị vùi lấp trong hàng núi những thông tin ở các kho lưu trữ và thư viện mà anh thường lui tới.
Anh dường như có thiên hướng quan tâm tới những gì dường như bị bỏ quên hoặc ít được nhắc đến. Và nhờ có anh, chúng tôi có thêm thông tin để bổ sung cho bức tranh số phận những cựu tù VN ở Guyane.
“Cùng với hậu duệ của những người tù ở Guyane, khi nào có thể và khi họ muốn, Pierre Michelon đang thu thập một xêri các video mang đầy tính thơ, những bản dịch và những ký ức tập thể

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2016

Buồm và tiếng Pháp

Vì đang dịch cuốn Essai của Pierre Paris nên tôi thấy cần phải đọc và học sâu hơn về buồm sau khi đã dịch sơ bộ một lần cuốn sách đáng giá này . Hôm nay đọc kỹ về buồm tứ giác 
Buồm tai trâu (voile aurique) là buồm tứ giác không đối xứng , luôn để cạnh tấn (bord d'attaque) vào gió , đó là điểm khác với buồm vuông . Có ba cách treo buồm tai trâu , đó là buồm treo một phần ba (voile au tiers/bourcet ) , buồm xx (Voile à corne) , buồm xx (Voile à livarde) 
Buồm treo một phần ba -
Buồm treo một phần ba


Buồm hình thang, cạnh trên được luồn xà treo và dây treo buồm tại một phần ba chiều dài
Buồm treo XX (voile a corne)

Xà treo buồm tựa đầu vào cột bởi một cái móc và quay quanh trụ cột. 
Thanh lèo (bôme/gui ) -xà nằm ngang , quay dưới cột buồm , duy trì và định hướng buồm tam giác và buồm tai trâu .
Vị trí các góc buồm như hình vẽ :
Ba cạnh của một buồm tam giác là :guindant ( hay còn gọi là bord d’attaque) , la chute (hay còn gọi là bord de fuite) , và bordure . Ba góc buồm là point d’amure, point de drisse, và point d’ecoute .  
Các dây di động của buồm (manœuvres courantes) gồm :
-drisse dây kéo lên hay hạ xuống xà ngang treo buồm (vergue) và buồm
-bras điều khiển buồm vuông bằng cách tác động vào xà treo buồm
-écoute và amure điều chỉnh hướng buồm bằng cách tác động vào các góc “tự do” của buồm  
Antenne- xà (espar/corne) thường có kích thước lớn và rất nghiêng so với mặt phẳng nằm ngang để luốn cạnh trên của buồm latin  
Buồm latin - buồm tam giác đặc trưng vùng Địa Trung Hải

Hôm nay ngày 23/07/16 tôi đã đưa lên mạng để cùng thảo luận với anh em về những câu chuyện này

Về các cạnh của một tấm buồm 
Buồm tam giác : Người Pháp và Anh  phân biệt ba cạnh như sau  :
-cạnh guindant ( hay còn gọi là bord d’attaque) , người Anh Mỹ gọi là luff
la chute (hay còn gọi là bord de fuite) , người Anh Mỹ gọi là leech
và bordure .,Anh Mỹ gọi là foot
Ba góc buồm là point d’amure, //Anh Mỹ -tack
point de drisse (góc buộc để kéo hạ buồm lên xuống) , //Anh Mỹ -head
và point d’ecoute (góc buộc dây lèo) //Anh Mỹ -clew  .
Buồm từ giác : Người Pháp và Anh Mỹ phân biệt các cạnh như sau:
Người Anh Mỹ cũng gọi là head, leech,foot còn người Pháp là

-



Ghi chú các cạnh buồm : 1-foot; 2-leech; 3-luff; 4-head






Các góc buồm tứ giác khi treo dọc gọi tên như sau:

Góc trên phía trước là throat, góc trên phía sau là peak ; góc dưới là tack và clew