Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nói về thực trạng đất nước


Xin chép lại tại đây bài viết về những vấn đề quan trọng nhất của đất nước.Những người làm nghề hàng hải và đóng tàu chúng ta không thể không quan tâm tới những vấn đề này.Trên trang này chúng tôi đã nêu cái gọi là chương trình đóng tàu Hải Hà vĩ đại ,cách biên giới Việt -Trung khoảng 15km,một chương trình có thể nói như lời một vị lão thành là "cực kỳ bố láo,không coi dân Việt ra gì!".May mà Vinashin đổ nhanh quá,nếu không ,hệ quả khôn lường!

Thực trạng đất nước và những

vấn đề nổi cộm trước mắt

Nguyễn Trọng Vĩnh

Hòa bình được lập lại trên đất nước ta đã hơn 30 năm. Trong thời gian ấy các nước xung quanh ta phát triển rất mạnh và phồn vinh, từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan, v.v.

Nước ta, trong thời gian qua cũng đạt được một số thành tựu, như: xây dựng được hệ thống đường sá, cầu cống trên toàn quốc (tuy chất lượng chưa cao, nơi này nơi khác có hư hỏng lún sụt); mở rộng và nâng cấp một số sân bay, bến cảng; xây thêm được một số công trình thủy điện trọng yếu; phát triển được ngành dầu khí; có một số khu công nghiệp hoạt động tương đối có hiệu quả; xuất khẩu được khối lượng gạo lớn và số lượng nông, thủy sản quan trọng; bộ mặt các thành thị được nâng cấp, chỉnh trang phong quang, khởi sắc hơn; xóa đói giảm nghèo có kết quả nhất định; hoạt động ngoại giao năng động, vị thế quốc tế của nước ta được nâng cao; GDP hàng năm tăng với tỷ lệ có vẻ đáng kể, nhưng xét về nhân tố cấu thành và đi lên từ cơ sở xuất phát thấp nên giá trị thực không mấy.

Cùng trong bối cảnh quốc tế ấy, nước ta vẫn tụt hậu xa so với các nước xung quanh. Không những thế, tình hình nước ta còn rất nhiều điều đáng lo ngại và bức xúc:

1. Ngoài việc lấy đất để phát triển giao thông, mở các khu công nghiệp là cần thiết, còn thì do thu hút đầu tư địa ốc quá nhiều, xung quanh nhiều khu đô thị mới quá nóng, mở hàng trăm sân gôn, nên mất rất nhiều ruộng đất. Do người ta xây nhiều đập trên thượng nguồn sông Mêkông, có thể sẽ xây đập thủy điện Sayaburi (đang bàn thảo), và cũng do biến đổi khí hậu, tương lai đồng bằng sông Cửu Long Nam Bộ sẽ thiếu nước ngọt, nhiễm mặn, không có lượng phù sa, “vựa lúa” của chúng ta không còn dồi dào như hiện nay, chúng ta sẽ đối mặt với nguy cơmất an ninh lương thực nếu còn phung phí ruộng đất canh tác của mình.

2. Lâm tặc và đầu nậu gỗ phá rừng vô tội vạ không kiểm soát và ngăn chặn được, lại do phá rừng trồng cà phê, làm rẫy, cho thuê hàng ngàn hecta rừng ven biên giới hàng 50 năm, người thuê cố nhiên cũng tự do phá, nênrừng mất quá nhiều, lũ lụt nghiêm trọng, khô hạn thất thường, hàng triệu dân khốn khổ, nên nếu không có biện pháp kiên quyết giữ rừng, và nếu lại khăng khăng làm đường sắt cao tốc vốn chưa có nhu cầu thực tế (và không chịu nghe biểu quyết bác bỏ của Quốc hội), thì sẽ phải phá bao nhiêu rừng nữa, tai họa sẽ còn thảm khốc đến thế nào?

3. Về quan hệ với Trung Quốc:

Trước sau ta luôn chủ trương “hữu nghị với Trung Quốc trên tinh thần tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào nội bộ nhau, hợp tác cùng có lợi”. Thực tâm Trung Quốc lại không chấp nhận như thế. Họ xảo quyệt đưa ra “16 chữ” và “4 tốt” cốt để ru ngủ và hạn chế ta. Về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ta có đầy đủ cứ liệu lịch sử và pháp lý là thuộc chủ quyền của ta, nhưng ta quá ngây thơ và thật thà tuân thủ “16 chữ” và “4 tốt” (hoặc là quá mềm yếu, đánh mất bản lĩnh của người lãnh đạo biết tiếp nối tư tưởng độc lập tự chủ Hồ Chí Minh), nên không công bố công khai những cứ liệu lịch sử đầy sức thuyết phục ấy cho thế giới thấy chính nghĩa thuộc về ta, rằng Hoàng Sa, Trường Sa đích thực là của Việt Nam không thể tranh cãi. Ta đấu tranh thì họ thất lý. Ta không đối đầu quân sự với họ, ta đấu tranh chính trị ngoại giao đồng thời vẫn giữ quan hệ hữu nghị (hữu nghị cũng có đấu tranh). Không nên sợ hão rằng vì công khai tư liệu đấu tranh chính trị, ngoại giao mà Trung Quốc có thể vô cớ phát động chiến tranh toàn diện đánh ta. Họ đương tuyên bố “không xưng bá”, đương phô trương “bộ mặt đẹp, yêu chuộng hòa bình” với thế giới. Hơn nữa nội bộ họ hiện nay cũng đầy dẫy mâu thuẫn đe dọa mất ổn định. Giả sử chiến tranh có xảy ra đi nữa, dù giữa bên mạnh và bên yếu, không có bên nào không tổn thất. Tuy nhiên xét tình hình thực tế hiện nay thì Trung Quốc không và chưa vội bành trướng bằng thủ đoạn gây chiến, họ có cách khác: “chinh phục mềm và gặm dần”.

Tại sao ta không dám công khai giới thiệu cho toàn dân ta những cứ liệu lịch sử vững chắc của ta và của thế giới khẳng định hùng hồn Hoàng Sa, Trường Sa là của ta, trong khi Trung Quốc hễ có cơ hội là bày đặt ra nhan nhản đủ loại tư liệu và “chính thống hóa” chúng để giáo dục cho dân họ, từ trong giáo án các trường học, từ trên sách vở, báo chí, phát thanh truyền hình, nhằm nhồi nhét cho dân họ tin nhầm “Tây Sa”, “Nam Sa” là của Trung Quốc từ thuở xa xưa bị Việt Nam và Philipin “xâm chiếm” cần phải “thu hồi”? Chỉ về phương diện này thôi, phải nói, thật là khó hiểu và khó khăn khi muốn xác quyết với chính mình cũng như với người khác rằng người lãnh đạo của chúng ta hôm nay vẫn nối tiếp được truyền thống của cha ông, kiên cường lo lắng giữ vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc!

Trung Quốc luôn nhắc “16 chữ” và “4 tốt” giả dối, nói trăm lời “hữu hảo”, nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta. Chiếm quần đảo của ta, bao chiếm hải phận trong Biển Đông của ta với cái “lưỡi bò” phi pháp; dùng tàu lớn (tàu “lạ”) đâm chìm tàu cá của ngư dân ta; bắn, bắt ngư dân ta, tịch thu tàu, thuyền ngư cụ của họ đòi chuộc và bắt nộp phạt… Gần đây họ tập trận gần Trường Sa nhằm uy hiếp ta. Trong đất liền, Trung Quốc đã đứng chân được trên vị trí chiến lược Tây Nguyên xung yếu của ta, đã thuê dài hạn (50 năm) được hàng ngàn hécta rừng ven biên giới và đầu nguồn của nước ta, thuê dài hạn một đoạn bờ biển ở Đà Nẵng nói là để làm “khu vui chơi giải trí”, xây bao kín, người Việt Nam không được đến, họ làm gì trong đó ai biết. Họ dùng thủ đoạn bỏ thầu “thấp”, trúng thầu nhiều công trình trong Nam, trúng thầu xây dựng một loạt nhà máy nhiệt điện; họ dễ dàng đưa ồ ạt lao động của họ vào mà chúng ta không kiểm soát được. Đã có hàng vạn người Trung Quốc rải khắp nước ta từ núi rừng đền đồng bằng, ven biển cũng không ai kiểm soát. Hàng hóa Trung Quốc còn tràn ngập, chiếm lĩnh thị trường chúng ta. Hiện nay tỉnh Quảng Tây đương đàm phán với bên ta “lập khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới” giữa Bằng Tường và Đồng Đăng rộng 8,5km gọi là “1 khu vực 2 Quốc gia” và 1 “khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới” nữa giữa Đông Hưng và Móng Cái khoảng 10km2. Chúng ta rất cần tỉnh táo cân nhắc và cảnh giác trước những điều này, nói như người xưa, chỉ ngủ một mắt còn một mắt vẫn phải ngóng nhìn động tĩnh của anh láng giềng xấu chơi nơi biên giới! Người cầm chịch đất nước có làm được vậy hay không? Dân chúng đang mong họ trả lời câu hỏi ấy bằng những hành vi, động thái cụ thể – dù là tượng trưng – giúp mình có chút yên lòng. Thế mà, những tín hiệu qua lại ngoại giao con thoi trong những ngày gần đây lại có vẻ như là câu trả lời ngược với điều dân chúng mong đợi – những hoạt động ấy chưa làm “yên dân” chút nào cả, và xin đừng tưởng rằng người dân không biết gì. Người ta dễ dàng so sánh với Philippines, với Malaysia… với nhiều nước ASEAN khác, và bất kỳ một sự “quanh co” nào mà nhìn cho thật sâu là trái với các nguyên tắc ứng xử về Biển Đông đã được ASEAN đề xuất trong Hội nghị thượng đỉnh nhiều năm về trước đều gây lo ngại, nếu không nói là làm giảm sút niềm tin nghiêm trọng.

Ở Lào, Chính phủ Lào mở đặc khu kinh tế Bò Ten với Trung Quốc. Đến nay toàn bộ nhà ở, khách sạn, cửa hàng… đều là của Trung Quốc; 90% dân số là người Trung Quốc, 10% người Lào chỉ làm thuê lặt vặt, vô hình trung và nghiễm nhiên huyện Bò Ten trở thành thành phố của Trung Quốc rồi. Nhớ lại “điểm nối ray” năm xưa sâu vào đất ta khoảng trên 100m cách “Mục Nam quan”, nay đã thành đất của Trung Quốc mà khôn xiết lo lắng! Các vị lãnh đạo có biết, có quan tâm và thao thức cùng dân chúng hay không?

Tất cả tình hình trên đây cho thấy nước ta đang đứng trước nguy cơ trở thành một chư hầu hoặc thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc, không chóng thì chầy. Độc lập tự do phải đổi bằng xương máu của hàng triệu người Việt Nam ta, của nhiều thế hệ con em tinh hoa của dân tộc trong bao nhiêu năm trời rồi sẽ ra sao đây?!

4. Giàu nghèo phân hóa càng xa, bất công đầy dẫy. Một tầng lớp người chỉ độ 1,2% dân số giàu nứt đố đổ vách do tham nhũng, do buôn bán đất và chiếm đất, do đầu cơ, buôn lậu, do nhận hối lộ từ trong nước và nước ngoài, do ăn từ các dự án. Có những người có 5, 7 biệt thự. Họ ăn chơi phè phỡn, sống như đế vương. Trong khi đó thì đa số nông dân còn quá nghèo, đa số công nhân lương thấp, không có nhà ở, đời sống chật vật; có những người nghèo phải bới từng đống rác, túi rác để kiếm sống. Ốm đau thì người nghèo, người thu nhập thấp khó có đủ tiền chữa bệnh, có được nằm viện thì 2, 3 thậm chí 4 người 1 giường, thuốc men có hạn. Người giàu đi chữa bệnh nước ngoài không là gì, ở trong nước, sẵn tiền “dịch vụ” thì được săn đón, một mình một giường hoặc một phòng, được chăm sóc chu đáo.

Về học hành thì con nhà giàu nếu học trong nước thì ô tô đưa đón, muốn học trường nào tha hồ chọn; đi Tây, đi Mỹ học cũng dễ dàng thoải mái. Con nhà nghèo thì học hết T.H.P.T cũng khó, bỏ học giữa chừng cũng rất nhiều do học phí cao và nhiều khoản đóng góp khác, hoặc do phải nghỉ để giúp gia đình kiếm sống. Trong xã hội còn nhiều bất công nữa, ví như nông dân bị thu hồi đất thì được đền bù với giá rẻ mạt, nhà đầu tư địa ốc (thuộc các “nhóm lợi ích”) giành được đất ngon, xây nhà thì bán giá cao gấp hàng nghìn lần, thu lãi kếch xù; người vô tội thì có tội, kẻ có tội lại được thưởng; thiếu nữ bị dỗ bán dâm thì bị tù, nhiều kẻ mua dâm các em lại vô tội, v.v.

5. Công nghiệp của ta phần lớn là lắp ráp, gia công, phải nhập nguyên liệu nên xuất khẩu thu lợi về không nhiều, góp cho ngân sách không mấy; các tập đoàn kinh tế Nhà nước ngày càng bị Thanh tra Kiểm toán phát hiện cái thì lỗ vốn, cái thì thất thoát lớn và ngày càng lộ ra thêm những món nợ khổng lồ khó lòng trả được, nên tài chính quốc gia đã eo hẹp càng thêm eo hẹp, hàng năm liên tiếpnhập siêu lớn, tuy xuất khẩu nông, thủy sản khá nhưngdự trữ ngoại tệ mỏng, trong khi đó nợ nước ngoài quá nhiều, rất đáng lo ngại.

6. Lạm phát phi mã, đồng tiền mất giá, mọi thứ đều tăng vọt và tăng nhanh chưa có điểm dừng. Giá điện, giá xăng tăng càng đội giá thức ăn vật dùng hàng ngày tăng ngất ngưởng, không chỉ 20%, 30%, mà có thứ 50%, 100%, ảnh hưởng gay gắt đến bữa ăn, đến việc chữa bệnh, học hành của con cháu dân nghèo và người lương thấp. Từ khoảng 10 năm lại đây chưa bao giờ đời sống khó khăn bức xúc như hiện nay. Thêm vào đó, tham nhũng vẫn diễn biến, tội phạm, tệ nạn xã hội tăng, bất công xã hội tràn ngập khắp nơi… gây nên khủng hoảng lòng tin, tâm lý bất mãn, rất dễ dẫn đến mất ổn định.

Các mặt tình hình trên đây, nói thẳng ra, là hậu quả của 10 năm lãnh đạo của nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh và 5 năm điều hành của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Trước tình hình bức bối như đã sơ bộ vạch ra ở trên, chúng ta phải làm gì? Thật là một câu hỏi khó. Đứng ở phía người dân mà nhìn, có những trách nhiệm không thể thoái thác, do ý thức chung lưng đấu cật để vực dậy đất nước là một nhân tố hàng đầu, chưa được đề cao. Nhưng đây đang nói về phía Nhà nước, người điều hành chính bộ máy hoạt động của toàn thể xã hội, nên chỉ xin nêu một biện pháp khẩn cấp:

Nhà nước cần phát huy dân chủ, nói thật mọi khó khănvới dân, lấy lại ít ra một phần lòng tin (đã mất) của dân đối với mình. Chính đây là khởi điểm để động viên toàn dân chung sức chung lòng nhằm tháo gỡ, vượt qua khó khăn trước mắt. Để làm được điều đó, trước mắt cần mở một cuộc hội thảo rộng rãi, không phân biệt, nghi ngờ, thành kiến, và tổ chức lấy lệ cốt đối phó hơn là thực lòng – như một Hội nghị Diên Hồng hiện đại, gồm các tri thức có chân tài thực học, các chuyên gia chính trị, kinh tế giỏi, và các tầng lớp thức giả khác, lắng nghetiếp thu ý kiến hay của họ để có kế sách hữu hiệu cứu nguy cho những bất cập từ lâu về kinh tế và xã hội, đồng thời phát huy tinh thần tự lực tự cường, độc lập tự chủ của cả dân tộc, trước hết là từ lãnh đạo cấp cao, thì mới dần dần cải thiện được tình hình để đưa đất nước tiến lên.

Thiết tưởng điều cấp bách cần làm ngay cho dân tộc ta không có gì hơn thế, và nếu không làm được thế e sẽ ngày càng nan giải.

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011

Mai Phụng Lưu và ngư trường Hoàng Sa

Trích từ blog của Mẹ Nấm

Phóng sự "Ngư trường truyền thống" do Đài Truyền hình Quảng Ngãi thực hiện kể lại sự trở về của ông Mai Phụng Lưu - một người được gọi là "sói biển" gắn bó nhiều năm với ngư trường Hoàng Sa - sau nhiều ngày bị Trung Quốc bắt giữ.

Khi được phóng viên hỏi:

- "Sửa tàu xong rồi anh có tiếp tục ra đánh bắt ở Hoàng Sa không?"

Mai Phụng Lưu ngần ngừ:

- À... à, cái này chắc không dám nữa vì nó đánh, nó tra điện quá. Tui cứ nghĩ là đất Hoàng Sa là lãnh thổ của mình, ờ mình cũng nghĩ là hồi kia cũng của mình giờ nó có bắt thì nó cũng không làm gì lắm chứ biết dzầy cũng hổng dám ra, do nó bắt rồi nó đánh, nó tra điện miết đó, giờ cũng không có dám nữa.

Đó là lúc chưa hoàn hồn, nhưng nửa tháng sau ông Lưu lại đưa ra ý định trở lại Hoàng Sa, và đoàn làm phóng sự đã ra đảo Lý Sơn để gặp ông.

Nghe đoạn chị Lan (vợ ông Lưu) trả lời phóng viên, nước mắt tôi rưng rưng:

"Cái hồi nhiều lúc tôi chọc tôi kêu có bà vợ ở ngoài Hoàng Sa hay sao á. Tui nói chắc ba mày có vợ ở ngoài Hoàng Sa cho nên mới ghiền ra Hoàng Sa miết đó. Chứ đi làm gì mà cứ bắt với đập, làm cái chi mà đánh với đập miết. Có hồi bị đánh đập về giấu không nói vợ..."

Đã mang nghiệp biển, không đi biển như bị trói tay trói chân, và chỉ có Hoàng Sa vùng biển truyền thống của ngư dân Lý Sơn mới cho họ nhiều cá mực mặc ở đó đang có nhiều thách thức. Nếu trước kia thách thức duy nhất là thiên tai, còn bây giờ cộng thêm một thách thức không phải do thiên tai.

Ông Nguyễn Đảng - người từng bị Trung Quốc bắt giữ hai lần khi đánh bắt ở Hoàng Sa nói:

"Nếu ai không đi làm thì thôi chứ ai đi làm ra đó họ, cái tư tưởng của họ đó là cũng như là của mình rồi, cũng như quê hương vậy đó, cũng như một cái ruộng rẫy của mình vậy, mình tới mình làm miết thôi chứ còn nghỉ là nghỉ không được.."

Trả lời câu hỏi tại sao không tìm một ngư trường khác an toàn hơn, "sói biển" Mai Phụng Lưu nói rất chân thật:

"Anh nghĩ Hoàng Sa này thân thuộc với anh hồi giờ rồi, từ biết làm nghề biển là đã ra Hoàng Sa.."

Ý thức về chủ quyền ở Hoàng Sa của người dân đảo Lý Sơn, của những người như ông Mai Phụng Lưu đâu cần bất kỳ giáo trình hay bài giảng nào mới có, nó là máu thịt, nó ăn sâu vào tiềm thức con người. Ngư dân Quảng Ngãi không hiểu chuyện gì đã xảy ra với vùng đất tổ tiên họ từ năm 2005, có thể họ không biết đến yêu sách "đường lưỡi bò" của Trung Quốc, sẽ chẳng ai trả lời họ được vì sao mình lại bị bắt giữ, bị cướp tài sản, thậm chí là bị bắn chết ngay trên chính ngư trường truyền thống của mình.

Tôi mong rằng, mỗi người xem phóng sự này (đặc biệt là những người trẻ) sẽ rút ra được cho mình những thông tin có ích về hiện trạng đất nước mình, từ đó có thể trang bị cho mình một góc nhìn xã hội tỉnh táo và nhân văn hơn với những ngư dân ở Lý Sơn - những người phải chịu khổ nạn ngay trên chính quê hương mình.

Một thước phim hơn vạn lời nói, chúng ta - những người xem phóng sự này nên nói lời cám ơn với đội ngũ những người làm phim dũng cảm: đạo diễn Nguyễn Thuỳ Quyên, quay phim Trịnh Ngọc Điệp, Nguyễn Thế Anh, người viết kịch bản lời bình Nguyễn Anh Tuấn, đặc biệt là người duyệt đề tài và chịu trách nhiệm nội dung Nguyễn Ngọc Trạch. Họ đã có thể chọn đề tài khác để làm, nhưng không, họ đã chọn, có lẽ vì họ là những người Việt Nam yêu tổ quốc, không cứ là người Quảng Ngãi. Họ chọn đề tài như anh Lưu chọn biển, chọn ngư trường…

"Ngư trường truyền thống" có mạch phim gọn, hình ảnh được sử dụng trong phim rất sát và rất đắt, tôi đặc biệt thích cách để mở hội thoại cho những nhân vật trong phim tâm sự, rất gần gũi và rất thực, tình cảm mà không hề sướt mướt.

Nghe nói rằng, phóng sự trên chỉ được trao bằng khen trong liên hoan phim truyền hình tháng 01/2011 vừa qua.

Phim tài liệu, cũng như các loại phim khác, đều có êkip làm phim gồm đạo diễn, tác giả kịch bản, quay phim…và cả “diễn viên” nữa. Bằng khen trao cho êkip làm phim, đó là đánh giá của ban tổ chức. Chắc chắn một điều, phim làm ra không chủ yếu dự thi cũng như không dành riêng cho BGK, BTC liên hoan xem và …suy ngẫm.

Cũng chẳng phải băn khoăn về cái giải được trao làm gì.

Chỉ băn khoăn, tâm thế của ban đứng ra trao giải, thái độ của các “đấng bậc” tít “trên kia” sao mà hèn thế? Miếng ăn của dân đã bị cướp mà im re, không bảo vệ được, đến cái nghe cái nhìn của dân chính xác thì bị cho là manh động lệch lạc.

Ở góc nhìn nhân đạo, có lẽ việc đưa phóng sự này lên truyền hình phải chăng là sự đối trọng cho việc đưa cô Lượm nào đó ?

Hãy nói dối nữa đi, đạo đức giả nữa đi…đã có người đi vào vùng “nhạy cảm” đánh cá, chịu bao nhiêu tủi nhục và đau đớn thể xác. Mang thực phẩm về cho các ông các bà ăn ngon, rảnh rang đi tìm bao nhiêu chuyện tầm phào, bịa đặt mà rơi nước mắt cá sấu. Đạo đức giả kiểu đó, đáng được “dựng tượng” lắm! Nếu không bị phát giác, không chừng chuyên mục người xây tổ ấm (rởm) với phóng sự cô Lượm lại đoạt giải vàng…?

Các anh các chị làm phim và những người có mặt trong phóng sự “Ngư trường truyền thống” kính mến,

Phóng sự này đã đặt đúng chỗ rồi đấy, không cần phải bằng khen hay huân huy chương gì nữa…! Những người có lương tri đã xem, đã trao giải!

http://vtvdanang.vn/video-clips/phim-tai-lieu/ng-trng-truyn-thng

http://www.youtube.com/watch?v=E-IWjQCVVqc

* Các đoạn in nghiêng được trích từ phóng sự "Ngư trường truyền thống"

la68 wrote today at 11:47 AM

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

Đăng Kiểm để làm gì?Hay chỉ cần một anh Tạch?

Mời các bạn nghe chuyện bên ô tô ,còn bên đóng tàu và hàng hải chúng ta thì sao nhỉ?

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2011


Khoảng 3 giờ 30 sáng 6-4, trên vùng biển Quảng Nam, tại khu vực tọa độ 150 54’ Bắc – 1080 36’ Đông (cách đảo Cù Lao Chàm 5 hải lý về phía Đông) đã xảy ra vụ đâm nhau giữa 2 tàu vận tải làm 3 người chết và 2 thủy thủ mất tích. Đây là vụ tai nạn hàng hải được cho là nghiêm trọng nhất từ trước đến nay trên khu vực biển miền Trung.

Thuyền viên xấu số tàu Bình Minh 28 được tàu SAR412 và lực lượng cứu nạn đưa về đất liền. Ảnh: NGUYÊN KHÔI

Chưa hết bàng hoàng

Đến chiều 6-4, hai trong tổng số 11 thuyền viên tàu Bình Minh 28 bị nạn trên vùng biển Cù Lao Chàm (Quảng Nam) rạng sáng 6-4 vẫn mất tích trong sự nỗ lực tìm kiếm của các lực lượng cứu nạn.

Vào khoảng 3 giờ 10 phút ngày 6-4, tàu Phúc Hải 05 và tàu Bình Minh 28 tông nhau trên biển khi cách bờ biển Đà Nẵng 25 hải lý, cách đảo Cù Lao Chàm (Quảng Nam) khoảng 5 hải lý. Sau cú va chạm, tàu Bình Minh 28 cùng toàn bộ thủy thủ đoàn chìm trên biển. Ngay sau khi nhận tin cứu nạn từ Đà Nẵng Radio, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải khu vực II (Danang MRCC) đã cho xuồng công tác của tàu SAR 412 đi cứu nạn.

Trong khi đó, tại hiện trường, tàu Phúc Hải 05 và tàu Minh Hải 136 tổ chức tìm kiếm thủy thủ đoàn tàu Bình Minh 28. Đến 6 giờ sáng cùng ngày, tàu Minh Hải 136 đã phát hiện được 2 phao bè kết đôi và cứu sống 6 thuyền viên tàu Bình Minh 28 và sau đó bàn giao cho tàu SAR 412. Đến 7 giờ, tàu SAR 412 tiếp cận và vớt được 2 thuyền viên đang trôi dạt dưới nước bên mạn trái của tàu Phúc Hải 05. Thuyền trưởng tàu Bình Minh 28 cho biết, tổng số thuyền viên trên tàu Bình Minh 28 là 11 người.

Do sức khỏe của 2 thuyền viên Nguyễn Thế Tuyển (quê Hưng Yên, sĩ quan boong) và Lê Ngọc Kiên (Thái Thụy, Thái Bình – thủy thủ) nguy cấp, tàu SAR 412 đưa nạn nhân về Đà Nẵng cấp cứu. Tuy nhiên, khi tàu cập bờ thì cả hai đều đã tử vong.

Đưa thi thể thuyền viên tàu Bình Minh 28 về Bệnh viện Đà Nẵng. Ảnh: NGUYÊN KHÔI

Chưa hết bàng hoàng, thuyền trưởng tàu Bình Minh 28 Nguyễn Văn Thắng kể: “Khi tai nạn xảy ra, thủy thủ đoàn đang ngủ, chỉ còn 4 người điều khiển tàu. Khi phát hiện có chướng ngại vật, tàu đã báo động, đồng thời cố đổi hướng tàu nhưng do cự ly quá gần nên không kịp. Khi nghe cái “rầm” thì anh em dậy hết và mặc áo phao rồi triển khai phao cứu hộ. Nhưng do tàu chìm nhanh, nước hút rất mạnh nên tôi bị vướng vào dây, chìm xuống nước. Khi ngoi lên mặt nước thì đuối sức và được anh em kéo lên phao. Lúc đó 6 anh em trèo lên hai phao, một phao 4 người và phao 2 người. Khi hai phao thấy nhau thì anh em chèo lại và buộc dây vào nhau. Cho đến 6 giờ sáng ngày 6-4 thì mấy anh em trên phao được tàu Minh Hải 136 chạy ngang qua cứu. Đi 11 người nhưng giờ chỉ còn 6 anh em…”.

Khoảng 12 giờ trưa, tàu QNa 2240 trong lúc đi đánh cá đã vớt được 1 thi thể mặc áo phao của tàu Bình Minh 28 cách Cù Lao Chàm 4 hải lý về phía Đông - Nam. Tàu ngư dân đã đưa thi thể nạn nhân vào Cửa Đại (Hội An) lúc 13 giờ 45 và xác định là thợ máy Hà Văn Đồng. Như vậy đến 17 giờ ngày 6-4 vẫn chưa tìm thấy 2 thủy thủ mất tích là Nguyễn Văn Giới và Hà Văn Nghĩa.

Do sương mù?

Theo thông tin từ Cảng vụ hàng hải Đà Nẵng, tàu Phúc Hải 05 thuộc chủ tàu là Công ty Cho thuê tài chính II (Ngân hàng NN-PTNT) cho Công ty TNHH Phúc Hải thuê, có trọng tải 15.100 tấn, trên hành trình từ Indonesia về Đà Nẵng, không chở hàng. Còn tàu Bình Minh 28 của Công ty TNHH Vận tải biển Đông Phú có trọng tải 1.955 tấn đang chở 1.885 tấn clinke trên đường từ Thanh Hóa đi An Giang. Khi đến vị trí trên thì đâm vào nhau, khiến 11 thủy thủ trên tàu Bình Minh 28 rơi xuống biển.

Danang MRCC cho biết, tại thời điểm xảy ra tai nạn có nhiều sương mù, tầm nhìn xa dưới 1km. Tuy nhiên, ông Vương Ngọc Châu, Giám đốc Cảng vụ hàng hải Đà Nẵng, cho rằng: Nếu nói do sương mù là nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn thì chưa thể khẳng định được. Bởi theo quy định phải điều tra, xác minh rất nhiều yếu tố khác nhau.

Theo thông tin từ thuyền trưởng tàu Phúc Hải 5, sau tai nạn, tàu đã bị một vết thủng lớn (khoảng 2m2) tại hầm số 1 mạn trái và sơ-mi của máy số 1 bị vỡ. Vì vậy, tàu Phúc Hải 05 đang đề nghị chạy vào vịnh Đà Nẵng để neo đậu, không tiếp tục tham gia tìm kiếm.

Ông Vương Ngọc Châu cho biết: “Trước mắt Cảng vụ hàng hải Đà Nẵng khẩn trương lấy lời khai các thuyền viên, nhằm nhanh chóng làm rõ nguyên nhân vụ tai nạn nghiêm trọng này”.

Hai nạn nhân được đưa về Đà Nẵng cấp cứu. Ảnh: Nguyên Khôi

Danh sách nạn nhân tàu Bình Minh 28:

STT

Họ và tên

Năm sinh

Quê quán

Nghề nghiệp

Sức khỏe

1

Nguyễn Văn Thắng

1952

Diễn Châu, Nghệ An

Thuyền trưởng

Sống

2

Nguyễn Thế Tuyển

Hưng Yên

Sĩ quan Boong

Chết

3

Nguyễn Văn Giới

thủy thủ

mất tích

4

Hà Văn Nghĩa

Thủy thủ

mất tích

5

Nguyễn Văn Điển

1952

Thái Thụy, Thái Bình

Thợ máy

Sống

6

Nguyễn Văn Bằng

1985

Thái Thụy, Thái Bình

Thủy thủ

Sống

7

Lê Ngọc Kiên

Thái Thụy, Thái Bình

Thủy thủ

Chết

8

Nguyễn Văn Duy

1991

Thái Thụy, Thái Bình

Thợ máy

Sống

9

Hà Văn Đồng

thợ máy

mất tích

10

Nguyễn Văn Hải

1956

Quỳnh Lưu, Nghệ An

phục vụ

Sống

11

Phạm Thế Dưỡng

1969

Thái Thụy, Thái Bình

Thợ máy

Sống

* Cũng trong sáng nay, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam nhận được tín hiệu cấp cứu của tàu đánh bắt cá mang số hiệu QNa90316 do ông Võ Tấn Kỵ làm thuyền trưởng hành nghề câu mực khơi, trên tàu có 28 thuyền viên đang gặp nạn trên biển.

Tàu Qna90316 xuất bến ngày 11-2, đánh bắt trên vùng biển cách cảng Kỳ Hà (huyện Núi Thành, Quảng Nam) khoảng 280 hải lý về hướng đông nam tại tọa độ 13 độ 16 phút N- 112 độ 30 phút E. Đến sáng 6-4, tàu bị hư hỏng máy, bị sóng đánh trôi dạt trên biển.

Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Nam đang liên lạc với các tàu đánh bắt nằm gần khu vực tàu Qna90316 gặp nạn nhằm ứng cứu nhanh nhất, đồng thời đang tích cực phối hợp với cơ quan chức năng để tổ chức cứu nạn, cứu hộ chiếc tàu bị nạn này.

Tiến sĩ trong đóng tàu và hàng hải có phải tiến sĩ salon?

Trước khi trả lời câu hỏi này,tôi mạn phép "chị" Lê Thị Liên Hoan cọp lại bài báo định nghĩa thế nào là trí thức salon đã,rồi từ từ tìm hiểu vấn đề.chẳng qua vỉ trong các năm vừa rồi,tôi tự đặt mục tiêu là xây dựng cuốn Bách Khoa Hàng Hải và Đóng Tàu.Bực mình vì sách làm mẫu tòan tên tuổi các ông tiến sĩ Tây Tàu,tôi cần thay bằng các con người Việt,những tiến sĩ Việt ...và thế là có dịp thống kê tìm hiểu các chắc sắc khoa học tạo nên bộ mặt của các nhà khoa học hàng đầu trong cuộc chinh phục biển ở nước ta

Họ salon ở kiểu gì? Kiểu mới nhìn qua thì hiện đại. Họ bằng cấp đầy mình, và kinh ngạc thay đều là bằng thật. Rồi sao nữa? Rồi họ dùng bằng cấp này làm cơ sở để… lấy thêm bằng cấp kia.

Nghĩa là, họ học suốt đời, và suốt đời tham gia các hội nghị này, các diễn đàn nọ, các khóa chuyên sâu khác. Ở đâu? Ở mọi nơi. Nhưng phần lớn ở… Tây mới “khiếp”.

Trong các hội thảo như thế, họ cũng chẳng phát biểu gì, mặc dù ai nói họ nghe cũng hiểu. Rồi họ đi từ hội thảo trở về, lập tức bắt tay vào công việc chuẩn bị cho hội thảo khác, vậy thôi. Họ trở thành một loại salon có học.

Cho nên, tôi mới giật mình khi thống kê, biết rằng ở ta có rất nhiều tiến sĩ. Nhưng những gì mà các tiến sĩ ấy làm lại khó biết vô cùng. Bởi lý do chúng vô cùng ít ỏi.

Hoá ra, nếu như có con đà điểu rúc đầu vào cát, thì cũng có con người rúc đầu vào khoa học, để làm một thứ duy nhất: trốn tránh cuộc đời.

Sẽ có người nói, trốn tránh không phải thói quen của người trí thức. Vâng, khi người ta trí thức thực sự. Còn ở đây, như tôi đã nói, người ta trí thức salon. Người ta có bằng cấp, thì với một niềm vui duy nhất là cho người khác ngắm và nhân thể tự ngắm mình.

Xã hội có biết điều này không? Xã hội ở bên Tây thì biết. Đã “chìm đắm” trong đại dương khoa học từ lâu, bên ấy người ta rất quen với các loại… bèo!

Chẳng hạn, nếu bạn ở các nước đó, bạn xưng là tiến sĩ, thì thiên hạ sẽ nhìn bạn với hai con mắt: một là kính nể, hai là nghi ngờ. Lý do họ nghi ngờ? Vì công chúng thừa biết những anh tốt nghiệp đại học không việc làm, chả có cách nào khác tiếp tục học thêm, và rồi cũng có đủ thứ bằng này nọ.

Chính vì vậy, ở bên ấy, khi phỏng vấn, người ta không thích đề cập đến bằng cấp, mà đến những việc đã làm. Đã từ lâu, những xã hội văn minh hiểu rằng khoa học cần phải được ứng dụng. Mất tính ứng dụng, kiến thức chỉ còn là một mớ trưng bày, và để… ngồi lên.

Nhưng trong xã hội ta, nơi khoa học chưa phát triển ở bậc cao, ánh hào quang của nó vẫn còn lấp lánh, thì vẫn nhiều anh nhanh chóng lợi dụng điều này.

Các anh đó tranh thủ biến kiến thức thành một thứ đệm hoặc chăn bông êm ái. Để ngủ ngon và để khỏi làm gì. Từ lúc nào, họ biến mình thành một thứ salon thực sự, họ vừa là ghế vừa là kẻ… ngự lên.

Chả lẽ, không ai phát hiện ra chuyện đó? Có chứ. Nhưng tâm lý người ta hay tha thứ. Bởi salon có nhiều kiểu không tiện lắm, nhưng vẫn cần có để cho sang!

Tiến sĩ trong đóng tàu và hàng hải có phải tiến sĩ salon?

Trước khi trả lời câu hỏi này

Họ salon ở kiểu gì? Kiểu mới nhìn qua thì hiện đại. Họ bằng cấp đầy mình, và kinh ngạc thay đều là bằng thật. Rồi sao nữa? Rồi họ dùng bằng cấp này làm cơ sở để… lấy thêm bằng cấp kia.

Nghĩa là, họ học suốt đời, và suốt đời tham gia các hội nghị này, các diễn đàn nọ, các khóa chuyên sâu khác. Ở đâu? Ở mọi nơi. Nhưng phần lớn ở… Tây mới “khiếp”.

Trong các hội thảo như thế, họ cũng chẳng phát biểu gì, mặc dù ai nói họ nghe cũng hiểu. Rồi họ đi từ hội thảo trở về, lập tức bắt tay vào công việc chuẩn bị cho hội thảo khác, vậy thôi. Họ trở thành một loại salon có học.

Cho nên, tôi mới giật mình khi thống kê, biết rằng ở ta có rất nhiều tiến sĩ. Nhưng những gì mà các tiến sĩ ấy làm lại khó biết vô cùng. Bởi lý do chúng vô cùng ít ỏi.

Hoá ra, nếu như có con đà điểu rúc đầu vào cát, thì cũng có con người rúc đầu vào khoa học, để làm một thứ duy nhất: trốn tránh cuộc đời.

Sẽ có người nói, trốn tránh không phải thói quen của người trí thức. Vâng, khi người ta trí thức thực sự. Còn ở đây, như tôi đã nói, người ta trí thức salon. Người ta có bằng cấp, thì với một niềm vui duy nhất là cho người khác ngắm và nhân thể tự ngắm mình.

Xã hội có biết điều này không? Xã hội ở bên Tây thì biết. Đã “chìm đắm” trong đại dương khoa học từ lâu, bên ấy người ta rất quen với các loại… bèo!

Chẳng hạn, nếu bạn ở các nước đó, bạn xưng là tiến sĩ, thì thiên hạ sẽ nhìn bạn với hai con mắt: một là kính nể, hai là nghi ngờ. Lý do họ nghi ngờ? Vì công chúng thừa biết những anh tốt nghiệp đại học không việc làm, chả có cách nào khác tiếp tục học thêm, và rồi cũng có đủ thứ bằng này nọ.

Chính vì vậy, ở bên ấy, khi phỏng vấn, người ta không thích đề cập đến bằng cấp, mà đến những việc đã làm. Đã từ lâu, những xã hội văn minh hiểu rằng khoa học cần phải được ứng dụng. Mất tính ứng dụng, kiến thức chỉ còn là một mớ trưng bày, và để… ngồi lên.

Nhưng trong xã hội ta, nơi khoa học chưa phát triển ở bậc cao, ánh hào quang của nó vẫn còn lấp lánh, thì vẫn nhiều anh nhanh chóng lợi dụng điều này.

Các anh đó tranh thủ biến kiến thức thành một thứ đệm hoặc chăn bông êm ái. Để ngủ ngon và để khỏi làm gì. Từ lúc nào, họ biến mình thành một thứ salon thực sự, họ vừa là ghế vừa là kẻ… ngự lên.

Chả lẽ, không ai phát hiện ra chuyện đó? Có chứ. Nhưng tâm lý người ta hay tha thứ. Bởi salon có nhiều kiểu không tiện lắm, nhưng vẫn cần có để cho sang!

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

So sánh tàu ngầm Nga cung cấp cho Trung Quốc và Việt Nam

Thứ tư, 06 Tháng 4 2011 10:31
Tạp chí Bình luận Quân sự Hán Hòa số tháng 4 dẫn nguồn tin là một chuyên gia công nghệ quân sự uy tín ở Mátxcơva (Nga) cho biết theo hiệp định song phương đã kí kết giữa Nga và Việt Nam, năm 2013, Việt Nam sẽ nhận được chiếc tàu ngầm Kilo đầu tiên, một năm sau là chiếc thứ hai và chiếc cuối cùng sẽ được bàn giao vào năm 2017. So với tàu ngầm Kilo 636 MK mà hải quân Trung Quốc sử dụng, tàu ngầm Kilo 636 MV mà Nga bán cho Việt Nam có nhiều điểm khác biệt, trong đó lớn nhất là về vũ khí trang bị.

Ảnh minh họa
Trước tiên, tàu ngầm Kilo của Việt Nam sẽ được lắp đặt tên lửa hành trình tấn công đối đất 3M-14E loại mới nhất, có tầm bắn 290 km. Loại tên lửa này không được Bộ Quốc phòng Nga phê chuẩn xuất khẩu cho Trung Quốc. Ngoài Việt Nam, hai nước khác được Nga xuất khẩu tên lửa 3M-14E là Ấn Độ và Angiêria.
Bên cạnh đó, tàu ngầm Kilo 636 MV còn được trang bị ra đa dẫn đường phức hợp đa tác dụng GE2-01 loại mới nhất. Loại ra đa này không được xuất khẩu cho Trung Quốc, có ưu điểm lớn nhất là giảm tối đa tạp âm trong môi trường nước và giúp đa dạng hóa biện pháp dẫn đường.
Về hệ thống sonar, tàu ngầm Kilo 636 MK của Trung Quốc chỉ được trang bị hệ thống sonar MGK 400E loại cơ bản. Trong khi đó, tàu ngầm Kilo 636 MV lại được lắp đặt hệ thống sonar MGK 400E loại cải tiến. Hai hệ thống sonar này có cùng cự ly thám trắc, nhưng hệ thống sonar MGK 400E loại cải tiến được trang bị bộ xử lý tín hiệu tốc độ cao nhiều công năng và có mức độ số hóa cao hơn.
Về kính tiềm vọng, tuy tàu ngầm Kilo 636 MK và tàu ngầm Kilo 636 MV đều được trang bị hệ thống thám trắc quang học, nhưng kính tiềm vọng sử dụng cho nhiệm vụ tấn công của tàu ngầm Kilo 636 MV được lắp đạt thêm thiết bị đo cự ly bằng tia la de và hệ thống quan trắc TV, IR. Trong khi đó, tàu ngầm Kilo 636 MK chủ yếu sử dụng quang học ngắm bắn và không có thiết bị đo cự ly bằng tia la de. Điều đó có nghĩa năng lực tác chiến ban đêm và độ chính xác của đòn đánh của tàu ngầm Kilo 636 MV sẽ cao hơn tàu ngầm Kilo 636 MK.
Điểm khác biệt cuối cùng là hệ thống điều hòa mà tàu ngầm Kilo 636 MV sử dụng thích hợp hơn với khí hậu, địa hình nhiệt đới.
Bên cạnh những điểm khác biệt, tàu ngầm Kilo mà Nga bán cho Trung Quốc và tàu ngầm Kilo mà Nga xuất khẩu cho Việt Nam có một số điểm giống nhau như cùng được trang bị tên lửa chống hạm 3M-54E, cùng sử dụng ắc quy 476 E loại cải tiến, tuổi thọ dài, đáp ứng được yêu cầu về nhiệt độ nước ở Thái Bình Dương.
Nguồn tin cho rằng thời gian sản xuất của hai loại tàu ngầm trên cách nhau hơn 5 năm, nên công nghệ trang bị cho tàu ngầm Kilo 636 MV tiên tiến hơn tàu ngầm Kilo 636 MK là điều đương nhiên. Xem xét những khác biệt nêu trên, theo tờ tạp chí, dù đều là tàu ngầm Kilo 636 M, nhưng khoảng cách về công nghệ giữa tàu ngầm Kilo 636 MV và tàu ngầm Kilo 636 MK chí ít là trên 10 năm.
Về 6 chiếc tàu ngầm Kilo mà Nga bán cho Việt Nam, từ lâu có thông tin cho rằng Việt Nam có thể sử dụng chúng để xây dựng hai hạm đội. Tuy nhiên, theo nguồn tin, 6 chiếc tàu ngầm Kilo 636 MV của Việt Nam sẽ được bố trí thống nhất, tạo thành một hạm đội và phía Nga sẽ phụ trách việc xây dựng tất cả các kho cất trữ tên lửa ở cảng biển và trạm cung cấp dưỡng khí như một phần trong nội dung hiệp định song phương đã kí kết với Việt Nam.
Liên quan đến giá mua tàu ngầm Kilo 636 MV, trước đây có thông tin cho rằng có thể hải quân Việt Nam đã phải mua tàu ngầm Kilo 636 MV với giá cao. Tuy nhiên theo nguồn tin, giá tàu ngầm Kilo 636 MV mà Nga bán cho Việt Nam hoàn toàn là giá thật và hiện nay phía Nga đã bắt tay vào chế tạo chiếc tàu ngầm Kilo 636 MV đầu tiên cho Việt Nam./.

Theo Tạp chí Bình luận Quân sự Hán Hòa

Quốc Trung (gt)

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2011

Cù Huy Hà Vũ ngày 04/04/2011


Nhìn tấm hình CHHV ra hầu tòa,tôi nhớ tất cả các bậc tiền bối đã hiên ngang trước cường quyền,nhớ Đỗ Văn Phong sẵn sàng lãnh án tù chung thân biệt xứ Guyanne,nhớ người cộng sản Lê Giản biệt xứ Madagascar mà Đỗ Như Ngọc -con Đỗ Văn Phong-đi thăm nuôi gia đình của ông Lê với một tính bạn hiếm có ,nhớ ông Ba Mai Lĩnh tù đầy Sơn La...!Việt Nam,Việt Nam...trong đau thương vẫn luôn luôn có những người con biết hy sinh vì Đất Nước !Điều mỉa mai thay là những người trong bộ cảnh phục đang đưa Hà Vũ vào tòa lại là người trong bộ máy mà chính Lê Giản vô cùng đáng kính yêu đã lập nên và cũng là bộ trưởng đầu tiên của cái bộ này