Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

Người Nga và Cam Ranh


Ít người nhớ rằng, trọn vẹn tròn cách đây 10 năm, ngày 4-5-2002, những người lính Nga cuối cùng đã bước chân lên tầu Xakhalin từ biệt căn cứ Cam Ranh sau gần 1/4 thế kỷ có mặt tại nơi này. Cam Ranh đã được gửi lại cho Việt Nam, như một căn cứ đầy đủ cơ sở nền tảng để trở nên hùng mạnh. Và dường như cho đến tận bây giờ, phần đông trong số chúng ta không thực sự biết gì nhiều về căn cứ ấy.
1. Ngày 23-4-2012, khi ba chiến hạm Mỹ cập cảng Tiên Sa, Đà Nẵng để bắt đầu 5 ngày hoạt động giao lưu, trao đổi hải quân “phi tác chiến” với Việt Nam, một hãng thông tấn nước ngoài đã bình luận rằng, nếu các chuyến ghé cảng này được nói một cách công khai, thì có một khía cạnh hợp tác Mỹ – Việt khác ít được loan báo: Đó là chiến hạm Mỹ đã được gửi đến sửa chữa, bảo trì tại các cảng Việt Nam. Theo Hạm đội 7, tàu hải quân Mỹ đã có lần được gửi đến sửa chữa tại các xưởng đóng tàu Việt Nam. Gần đây nhất, vào năm 2012, chiếc USNS Rappahannock (T-AO-204) đã có chuyến đến bảo trì tại Nhà máy đóng tàu Cam Ranh.
Một bài bình luận thú vị trong không khí biến động thời cuộc không ngừng của Biển Đông. Cam Ranh đã âm thầm phát triển, trở thành một tổ hợp hải quân và không quân hùng mạnh, với các trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại có thể đánh trả mọi đe dọa chiến tranh với Việt Nam, như lời Trung tướng, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên LB Nga A.V Phêđôrôvich nhận xét. Lời trung tướng A.V Phêđôrôvich hoàn toàn có cơ sở, bởi ông là một trong số những người thợ xây dựng Xô Viết có mặt ở Việt Nam từ những năm 1980, và ông không xa lạ gì với căn cứ Cam Ranh.
Giới tinh hoa quân sự đã thừa nhận vị trí của Cam Ranh có tầm ảnh hưởng to lớn tới bản đồ địa – chiến lược toàn cầu, cho dù họ có đứng ở các chân trời quan điểm nào đi chăng nữa. Năm 1888, Hải hạm của Nga mang tên “Tráng sĩ” trong chuyến đi vòng quanh thế giới đã cập cảng Cam Ranh, sau đó, nơi đây đã trở thành quân cảng của các nước lớn thay nhau đồn trú trong vòng gần 100 năm trở lại đây. Trong cuộc chiến Nga – Nhật 1905, hơn 100 chiến thuyền thuộc Hạm đội Thái Bình Dương số 2 của Hải quân Nga Hoàng đã từng tập trung tại Cam Ranh. Năm 1935, thực dân Pháp bắt đầu cho xây dựng căn cứ hải quân tại Cam Ranh. Năm 1940, Cam Ranh rơi vào tay Nhật Bản, trở thành bàn đạp để Nhật Bản tiến đánh Malaysia và các quần đảo thuộc địa của Hà Lan (nay là Indonesia). Ngày 18-10-1946, Cam Ranh là nơi diễn ra cuộc hội kiến giữa Hồ Chủ tịch và cao ủy Pháp D’Argenlieu. Cuộc gặp gỡ được tổ chức trên thiết giáp hạm Suffren, có các vị chỉ huy hải, lục, không quân Pháp và các nhà báo nước ngoài. Trong bữa tiệc trên chiến hạm Suffren, khi D’Argenlieu bóng gió nói: “Thưa ngài Chủ tịch, Ngài thật đang bị đóng trong cái khung”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mỉm cười và trả lời: “Nhưng mà Ngài Đô đốc biết đấy, chính bức tranh làm nên giá trị cái khung”. D’Argenlieu lại nói: “Chủ tịch thật quen với biển cả, có lẽ xin tặng Người danh hiệu “Người thủy thủ nhỏ” như quân đội Pháp đã quý mến tặng Napoleon cái tên “Người đội trưởng nhỏ!”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đáp lại: “Phải, người thủy thủ nhỏ của Hải quân Việt Nam”.
Từ năm 1965 – 1972, Mỹ đã xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ quân sự khổng lồ được bảo vệ “bất khả xâm phạm” để làm cứ điểm tiếp liệu và khí tài quân sự cho chiến tranh, đồng thời khống chế hành lang phía tây Thái Bình Dương. Hầu hết cây cối đã bị đốt trụi để làm căn cứ. Khi chiến tranh quyết liệt nhất vào năm 1969, Linđen Giônxơn đã đến thị sát căn cứ này, và đó là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng thống Mỹ khi tới Việt Nam. Lúc đó, căn cứ không quân của Mỹ ở vịnh Cam Ranh rất lớn, bao gồm hai sân bay cho máy bay phản lực và một sân bay cho máy bay trực thăng, mỗi sân bay có sức chứa hơn 100 máy bay. Người Mỹ còn tiến hành khoét núi Cam Ranh, xây dựng kho chứa máy bay trong lòng núi, nâng cấp đường băng lớn có thể cho máy bay ném bom chiến lược B52 cất và hạ cánh. Vào lúc cao điểm, sân bay quân sự Cam Ranh có tần suất hạ cánh và cất cánh cao nhất thế giới.
Năm 1972, người Mỹ trả lại căn cứ này cho quân đội Sài Gòn và 3 năm sau quân đội Miền Bắc Việt Nam đã giải phóng Cam Ranh. Khi người Miền Bắc tiếp quản, Cam Ranh đã bị phá hủy hoàn toàn các bến neo tầu, đường xá, sân bay, hệ thống đường dây tải điện cũng như các khu nhà ở.
Mục đích của việc tàn phá Cam Ranh là không để lại cho đối phương sử dụng. Đồng thời, người Mỹ cho xây dựng tại Xubic bên bờ biển Philippines, nằm đối diện với Cam Ranh một căn cứ hải quân cực mạnh với hơn hai chục bến tàu trên tổng chiều dài 9km, có thể cho phép cùng một lúc neo đậu tới 35 tầu chiến. Dung tích các bể chứa dầu của căn cứ này là 400 ngàn tấn, hay nói cách khác là lớn gấp 40 lần dung tích kho chứa nhiên liệu tạm thời của căn cứ Cam Ranh ở thời điểm năm 1987. Còn kho chứa vũ khí của Mỹ với 50 ngàn tấn đạn dược và xưởng sửa chữa tầu biển Xubic thì chẳng có gì so sánh được.
2. Chuẩn đô đốc E.I Prokôpievich, người cuối cùng lên cầu tầu thủy Xakhalin -9 rời Việt Nam năm 2002 trong cương vị Chỉ huy trưởng Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật 922 của Cam Ranh nhận định, căn cứ quân sự trước đây của Mỹ trên bán đảo Cam Ranh – Khánh Hòa đã thu hút sự chú ý Liên bang Xô Viết bằng chính vị trí địa lý của nó, xét về mọi phương diện thì hoàn toàn ưu việt cho việc triển khai một căn cứ hải quân. Nó cho phép khống chế các eo biển Malaysia và Philippines, có thể tiến hành trinh sát điện tử Biển Đông, biển Philippines, Đông Hải, thậm chí tới tận khu vực vịnh Pécxich hay vùng bắc Ấn Độ Dương. Bán đảo Cam Ranh bọc trong mình hai vịnh Bình Ba và Cam Ranh, nơi không chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết, có độ lớn và sâu để có thể neo đậu mọi loại chiến hạm và tầu hộ tống, kể cả tầu sân bay.
Từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, hải quân Liên Xô đã vươn ra biển lớn, bắt đầu tiến hành trực ban chiến đấu trên các đại dương. Tầu chiến, tầu ngầm, máy bay hải quân được triển khai trên các đại dương nhằm mục đích bình ổn cục diện chung. Việc mở rộng quy mô cũng như vùng hoạt động của tầu thuyền và không quân trên biển yêu cầu phải có mạng lưới hậu cần kỹ thuật hải quân rộng khắp. Vì không có căn cứ quân sự ở nước ngoài nên Liên Xô đã xây dựng trạm cung ứng vật tư kỹ thuật trên lãnh thổ các nước có quan hệ thân thiện, đương nhiên Cam Ranh là một điểm sáng tô son. Cuối năm 1978, nhóm sĩ quan đại diện cho các tổng cục của Bộ tư lệnh Hải quân và của Hạm đội Thái Bình Dương đáp máy bay sang Việt Nam để ngày 30/12 đã thỏa thuận xong và ký biên bản ghi nhớ làm cơ sở đàm phán xây dựng và cùng khai thác Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật.
Ngày 2-5-1979, Chính phủ LB CHXHCN Xô Viết và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ký hiệp định về việc sử dụng Cam Ranh làm Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật cho hạm đội Thái Bình Dương của quân đội Liên Xô – thực chất là hợp đồng cho thuê không mất phí trong 25 năm. Ngay ngày hôm đó, thi hành lệnh của Bộ tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô và chỉ thị số 13/1/0143 của Cục tham mưu hạm đội Thái Bình Dương ngày 28-8-1980 đã thành lập Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật trên bán đảo Cam Ranh mang phiên hiệu đơn vị 31350.
Theo quy định trong Hiệp định, tại quân cảng Cam Ranh cùng lúc có thể tập trung từ 8 – 10 tầu chiến Liên Xô, 4 – 8 tầu ngầm có khu neo nổi và tối đa 6 tầu hộ tống. Tại sân bay cùng lúc có thể tiếp nhận từ 14 – 16 máy bay mang tên lửa, 6 – 9 máy bay trinh sát do thám và 2 – 3 máy bay vận tải. Tùy theo tình hình chiến sự cụ thể, số lượng máy bay và tầu chiến có thể tăng lên theo thỏa thuận giữa hai Bộ quốc phòng Liên Xô và Việt Nam.
Tháng 5/1979, các tầu chiến Liên Xô bắt đầu đi vào hải phận Cam Ranh. Mùa hè năm đó, tầu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi K – 45 đã neo đậu tại Cam Ranh, sau đó ít lâu, các máy bay hải quân của hạm đội Thái Bình Dương bắt đầu hạ cánh.
Tháng 12/1979, Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô, Đô đốc X. Gorskốp tới Cam Ranh và ông đã dành hẳn một ngày để quan sát vịnh biển này, giống y như cách Tổng thống Mỹ Giônxơn đã tới để ngắm nhìn địa thế “sông núi nước Nam” 10 năm về trước. Phân đội đầu tiên của Hạm đội Thái Bình Dương gồm 54 người đến đây tháng 4/1980 và tháng 8 năm đó quân số được bổ sung thêm 24 người thuộc bộ phận thông tin liên lạc.
Bộ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và chính phủ Liên Xô đã giao cho Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật 922 những nhiệm vụ sau đây: Đảm bảo an toàn neo đậu cho các chiến hạm và tầu hộ tống trong thời gian nghỉ tại Cam Ranh, cung cấp điện, nước, nhiên liệu và lương thực thực phẩm cho các tầu này; Duy trì cơ số vật tư kỹ thuật dự trữ theo quy định, cấp phát và vận chuyển vật tư kỹ thuật lên các chiến hạm và các tầu hộ tống của Hải quân đi qua đây (trong đó có phụ tùng thay thế, trang bị kỹ thuật và trang bị tầu); Đảm bảo liên lạc tiếp sức cho các chiến hạm và tầu hộ tống của Hải quân tại Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương với chỉ huy sở của Hạm đội Thái Bình Dương và của Bộ tư lệnh Hải quân; Sử dụng sân bay Cam Ranh làm nơi đỗ của máy bay chống tầu ngầm và máy bay trinh sát; Trợ giúp y tế chuyên môn sâu… Chính bởi thế, Cam Ranh đã giảm nhẹ đáng kể áp lực cho Hạm đội Thái Bình Dương nói riêng và toàn bộ Hải quân Liên Xô nói chung trong việc cung cấp những dự trữ cần thiết cho các chiến hạm và tầu hộ tống đang làm nhiệm vụ tại Biển Đông trong tình hình chiến sự lúc đó của khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Và Cam Ranh trở thành căn cứ hải quân lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài, căn cứ duy nhất bên bờ Biển Đông, nơi cách cảng gần nhất của Nga tới 2.500 hải lý.
3. Từ mùa thu năm 1983 đến tháng 8 năm 1991, hải đoàn cơ động số 17 triển khai tại Cam Ranh, từ tháng 8 – 1991 đến tháng 12 – 1991 được thay thế bằng hải đoàn cơ động số 8 và sau đó là hải đội tầu hỗn hợp 119. Thời điểm năm 1986, trên sân bay triển khai trung đoàn không quân hỗn hợp độc lập gồm 4 máy bay Tu – 95, 4 chiếc Tu – 142, phi đoàn máy bay Tu-16 khoảng 20 chiếc các loại, phi đoàn Mic 25 khoảng 15 chiếc, hai máy bay vận tải An – 24 và 3 máy bay lên thẳng Mi-8. Ngoài ra trung đoàn còn quản lý và chỉ huy căn cứ chống tầu ngầm, tiểu đoàn tên lửa và tiểu đoàn kỹ thuật.
Tháng 2 năm 1984, theo đề nghị của phía Việt Nam, Chính phủ Xô Viết đã quyết định khôi phục và xây dựng thêm một loạt công trình tại căn cứ Cam Ranh. Việc xây dựng Cam Ranh bước sang một giai đoạn mới, chuyển từ hình thức tự hạch toán kinh tế sang hình thức đấu thầu khoán gọn, bắt đầu giai đoạn xây dựng kiên cố thay cho các kết cấu lắp ghép tạm thời. N.M Zariphôvich – Phó TGĐ Cty xây lắp Liên Xô tại Việt Nam giai đoạn 1987 – 1989 đã kể lại trong cuốn “Liên Xô – một từ không bao giờ quên” (Nguyễn Đình Long dịch) rằng, Cục kỹ thuật xây dựng nước ngoài thuộc Bộ quốc phòng Liên Xô, đơn vị có nhiều kinh nghiệm xây dựng các công trình ở hơn 60 nước trên thế giới đảm nhiệm việc lựa chọn và đưa chuyên gia đến Cam Ranh. Họ là những chuyên gia tài năng của các đơn vị trong và ngoài quân đội được các tổ chức Đảng, Đoàn giới thiệu, được chở sang bằng đường hàng không qua Mátxcơva hay Vlađivôxtốc theo hành trình Mátxcơva – Tasken – Karachi (đôi khi là Bombay) – Kancútta – Hà Nội – Cam Ranh.
Trong thời gian bay kéo dài 17 giờ, các chuyên gia được cử đi công tác và thân nhân đi cùng đã nhận thấy những khác biệt trong đời sống mỗi nước. Từ Tasken, vì sẽ bay qua bầu trời Ápganistan đang nóng bỏng chiến sự nên phải bay đêm trên tầm cao. Máy bay hạ cánh ở sân bay Karachi ban đêm, các tay súng Pakistan vây kín xung quanh, không cho xuống sân bay. Một giờ rưỡi máy bay đỗ trong đêm tối, bị bao vây, không điều hòa và không quạt gió, để chờ đổi kíp bay và nhận lên máy bay nước uống đóng chai dán nhãn Coca-Cola. Khi tới Hà Nội, họ được nghỉ tạm tại khách sạn Kim Liên, sau đó được đưa sang sân bay Gia Lâm để vào Cam Ranh bằng máy bay AN-12. Tại nơi này, một công trường xây dựng khổng lồ trên diện tích khoảng 100km2 đang chờ đón họ.
4. Trên cơ sở Hiệp định ký giữa Liên Xô và Việt Nam ngày 20-4-1984, hai bên đã ký hợp đồng xây dựng cụm đài Ra-đa số ba, là công trình viện trợ không hoàn lại. Tính chung từ năm 1984 đến năm 1987, Tổng công ty xây lắp Liên Xô do E.X Bôprênhep làm Tổng giám đốc đã xây dựng tổng cộng 28 nhà ở và công trình chuyên dụng các loại. Lúc đó tổng số người Liên Xô sống trong khu quân sự là 6.000 người, kể cả công nhân xây dựng. Theo thỏa thuận trong mục 71 của Hiệp định ký ngày 20-4-1984, các công trình xây dựng xong sẽ bàn giao cho phía Việt Nam sử dụng. Các hạng mục đầu tiên được xây dựng xong từ tháng 12- 1987, sau đó các chuyên gia Liên Xô bắt đầu sử dụng theo hình thức thuê miễn phí. Có thể thấy rằng, về cơ bản, các công trình được Liên Xô – Nga xây dựng ở Cam Ranh bao gồm: Khu nhà ở của Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật, trong đó có chỉ huy sở đơn vị 31350 và doanh trại cho quân số biên chế của đơn vị, nhà ăn 250 chỗ, lò bánh mỳ, tổ hợp tắm hơi – giặt là, CLB, trường phổ thông số 183, 18 tòa nhà ở, kho tổng hợp lưu giữ và cấp phát vật tư, đội xe (gồm cả xe chuyên dụng); Vùng bến nhỏ; Bể chứa ngầm thể tích 14.000m3 dùng để chứa nhiên liệu; hai hầm lạnh dung tích 270 tấn dùng để chứa thực phẩm lưu trữ; 12 kho khung sắt dùng để chứa các loại vật tư khác nhau; Hai bể lọc giếng khoan, một dùng cho sinh hoạt, một dùng cho chiến hạm và các tầu hộ tống; Trạm phát điện trung tâm công suất 24.000kW cấp điện cho tất cả các công trình thuộc khu quân sự và của Việt Nam trên bán đảo… Khi từ biệt Cam Ranh, người Nga đã chở đi 588 người, 819 tấn hàng trong đó có 50 chiếc ô tô và xe chuyên dụng, 190 tấn dầu diezel, 133 tấn dầu mỡ các loại, vũ khí đạn dược cũng như tài liệu lưu trữ và tài liệu mật, bằng cả đường hàng không và đường biển. Đồng thời, người Nga bàn giao cho phía Việt Nam 57 tòa nhà và công trình thuộc căn cứ, 85km đường dây tải điện lưới, 62km đường điện cáp, 25km công trình ngầm, 250m cầu cảng, sân bay và hệ thống quản lý kho.
Những người Nga đã sống và làm việc như thế tại Cam Ranh. U.X Ivanôvich, Đại tá quân dự bị, cựu binh Cam Ranh kể lại rằng, cho đến tận năm 1992, khi Liên Xô đã tan rã, thủ tục ra vào khu quân sự vẫn do phía Việt Nam quy định. Theo thỏa thuận thì mỗi tháng chỉ cho phép 4 chuyến xe đi ra ngoài theo kế hoạch định trước với số lượng người hạn chế, chủ yếu là dành cho thủy thủ Hạm đội Thái Bình Dương. Còn đối với số nhân viên kỹ thuật của Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật thì do “nhiều yếu tố” nên ra “vùng tự do” là vi phạm luật. Bởi thế, để đưa được một đoàn phụ nữ dân sự trong quân cảng Cam Ranh ra tắm ở bãi biển ngoài khu quân sự nhân ngày 8/3, ông đã phải uống rượu ngâm rắn biển và sò huyết cùng với xoài xanh thái lát chấm muối với cả ba chỉ huy trưởng quân sự và hai phó chính trị người Việt cùng một người phiên dịch cho tới quá nửa đêm mới có thể đạt được mong muốn của mình.
5. Cam Ranh đã được Liên Xô xây dựng ra sao? Đơn vị đầu tiên của Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật gồm 50 người đến bán đảo Cam Ranh trên con tầu PM-156 vào tháng 4-1980. Mùa thu năm 1984, nhóm chuyên gia Liên Xô đầu tiên do Chánh kỹ sư của Tổng công ty xây lắp Liên Xô A.A Pêtúc dẫn đầu đã vào Cam Ranh. Vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị thi công, phương tiện vận tải, đồ gỗ văn phòng và nhiên liệu được cung cấp qua đường Tổng cục kỹ thuật Bộ Kinh tế đối ngoại. Mọi việc vô cùng vất vả nếu chúng ta biết được rằng, các chuyên gia đã phải bốc dỡ ngoài bến tầu gần 700.000 tấn hàng hóa thiết bị. Ai đã từng một lần phải bốc xi măng rời (không đóng bao) từ dưới tầu lên bờ mới hiểu được thế nào là chiến công trong lao động. Nổi cộm nhất của việc giải quyết các vấn đề xây dựng hóc búa tại đây là lấy đâu ra nước ngọt ở bán đảo này? Ai cũng biết rằng, quanh bán đảo Cam Ranh chỉ có nước biển, không thể dùng cho xây dựng cũng như cho sinh hoạt được. Lính Pháp và lính Mỹ trước đây sử dụng nước chở bồn và các loại nước giải khát đóng chai, còn người Liên Xô đã khoan tìm kiếm nước. Người lính Việt Nam và người dân sống ở nơi này đến nay vẫn hàm ơn các chuyên gia Liên Xô, những người đã tìm ra nước ngọt và xây dựng 11km đường ống dẫn nước tới “đất liền”, mang nguồn nước tới làm sống lại mảnh đất khô cằn này. Khi đưa vào sử dụng tổ hợp công trình lọc nước sạch, Thiếu tướng, Uỷ viên Bộ Chính trị Phùng Thế Tài và ông Tổng Giám đốc Tổng Công ty Xây lắp Liên Xô đã cùng rót hai ly nước và uống thử. Nó giống như hành động của một quan chức cấp cao của Nhật Bản đã uống thử ly nước lọc của một nhà máy nước hoạt động trở lại sau khi khắc phục sự cố hạt nhân Fukushima, trước ống kính của hàng trăm hãng thông tấn trên thế giới. Đây là một hành động mang tính biểu tượng, và mọi người xung quanh đều hiểu rằng, Xô – Việt đã trở thành quan hệ chuẩn mực giữa con người với con người.
5 năm trời ròng rã, họ đã xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên cả bán đảo lẫn đất liền. Những đốc công, thợ cả, những thợ hàn, thợ điện, thợ lái máy đã vật lộn với sóng biển để cố định cầu cảng và lắp đặt các công trình bờ. Công nhân làm đường trải nhựa sửa đường dưới cái nắng như thiêu như đốt. Gần mười ngàn lượt chuyên gia Nga/ Liên Xô đã tới và làm việc ở Cam Ranh như thế.
L.N Mikhailôvich, phóng viên báo Krasnaia Zvezđa đã tường thuật lại rằng, nơi này cây cối không mọc được vì bị côn trùng có cánh tàn phá; những khung cửa gỗ chỉ cần 3 tháng không để ý là đã bị mối biến thành mùn. Cuộc chiến đấu giành giật với cuộc sống nơi đây diễn ra hàng ngày: phải chống chọi với khí hậu khắc nghiệt, với rắn độc và với các bệnh nhiệt đới, cũng như với máy móc thiết bị già cỗi đã dần dần hết hạn sử dụng. Những cây cột điện bằng thép đưa điện vào quân khu bị thời gian bào mòn và bị những trận bão lớn quật đổ. Mất điện trong thời tiết khí hậu oi bức không khác gì thiếu nước ngoài sa mạc nóng nực. Để tìm – sửa chỉ một đoạn đường cáp hỏng, toàn thể đàn ông ở đây đã phải đào một đường hào cát dài hai cây số rưỡi, sâu tới một mét, đào từ sáng sớm đến tận tối khuya, trong mưa nhiệt đới và nắng cháy lưng, rồi lang thang tìm 1 đoạn cáp thay thế tại một nơi cách đó tới 5km sau đó xốc cáp đi trên cát, vượt qua ụ cao hố sâu mang tới chỗ hào đã đào. Tính ra mỗi người đã phải vác tới 60kg cáp và phải mất 9 ngày mới hoàn thành. Đô đốc M. Zakharenkô, Tư lệnh trưởng Hạm đội Thái Bình Dương đã ví von vui vẻ: “Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật Cam Ranh là một quả tạ treo trên cổ tôi, nhưng đó là một quả tạ bằng vàng cần phải mang đi tiếp”.
6. Cam Ranh đã chứng kiến sự hy sinh của dòng máu Nga – Xô Viết. T.A Đanhilôvich, nguyên Quản trị cận vệ trưởng dự bị đã kể lại rằng, sáng 13-2-1985, khi bay tuần tra trên Biển Đông, máy bay TU-95 bay số 2 cất cánh sau 6h30 phút, kíp bay do Thiếu tá cận vệ V. Spiriđônôp chỉ huy ở khoảng cách 15km, cao hơn 300m so với máy bay thứ nhất, đã nhìn thấy qua ánh đèn tín hiệu máy bay thứ nhất giảm nhanh độ cao và bay chếch sang phải. Cùng lúc đó trong bộ đàm vang lên tiếng kêu: “Chúng tôi bị rơi! Chúng tôi bị rơi! Có ai nghe thấy không? Chúng…” Vì trời nhiều mây nên máy bay số 2 không thể xác định được chính xác điểm rơi của máy bay số 1, và Biển Đông đã nuốt trọn trong lòng mình cuộc sống của cả kíp bay lẫn nguyên nhân gây ra tai nạn. Phi công nổi tiếng người Pháp A.Đ.S Êkzupêri từng nói rằng phi công là những người không bao giờ chết, mà họ chỉ bay đi khỏi cuộc đời mà thôi. Kíp bay của những người phi công Nga cũng thế, họ bay đi mãi mãi, để lại trên mặt đất gia đình và vợ con mình. “Chào những cánh đại bàng bay không về tổ/ Mà yên mình nơi sâu nước Thái Bình Dương/ Để mẹ già đêm dài ngóng chờ than thở/ Và trẻ thơ trong côi cút thiếu tình thương/ Đồng đội anh lặng chìm nghẹn ngào đau khổ/ Không phải ai cũng hiểu được nỗi đau riêng” – Nguyễn Đình Long dịch bài thơ của chị V.V Gerchkô viết tưởng nhớ những người trong vụ tai nạn gây chấn động Liên Xô này như vậy. Và không chỉ có những phi công Nga nằm xuống ở Cam Ranh mà còn có cả những thủy thủ và những người không mặc áo lính.
Từ năm 1973 đến năm 1991, sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tới lúc Liên Xô tan rã, Việt Nam vẫn luôn nhận được sự giúp đỡ to lớn về kinh tế từ phía Liên Xô. Quyết định của BCH Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô công bố tháng 7-1973 về việc “xem xét khả năng xóa nợ toàn bộ những chi viện kinh tế và quân sự” của Liên Xô cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến lần thứ hai được người Việt Nam đón nhận như một “khẳng định sáng ngời của tình hữu nghị anh em” đã gắn bó hai nước với nhau. Ngoài ra phía Liên Xô còn thông báo sẵn sàng giúp Việt Nam khôi phục các công trình kinh tế đã bị chiến tranh tàn phá.
Trong thời gian này Liên Xô đã trợ giúp về kinh phí và trang bị kỹ thuật cho Việt Nam xây dựng thêm gần 100 xí nghiệp công nghiệp, trong đó có nhiều xí nghiệp thuộc những ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân và đóng vai trò quan trọng xác định tiềm năng kinh tế tương lai của một đất nước bị tàn phá nặng nề trong cuộc chiến tranh hủy diệt. Trong số đó có công trình xây dựng tổ hợp thủy lợi đồ sộ và Nhà máy Thủy điện Hòa Bình (1920 MW) trên sông Đà – tổ hợp thủy lợi lớn nhất Đông Nam Á. Quan trọng không kém, ngày 19-6-1981, Chính phủ hai nước đã ký kết Hiệp định thành lập Xí nghiệp Liên doanh Việt – Xô trong lĩnh vực thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía nam Việt Nam. Liên Xô đã cho Việt Nam vay khoản ngoại tệ (thỏa thuận ký ngày 13-8-1982) để chi phí mua sắm trên thị trường quốc tế những trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến nhất cho Xí nghiệp Liên doanh mới với tên gọi Vietsovpetro. Chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực dầu khí biển, xây dựng, nghiên cứu khoa học, kinh tế từ các miền đất như Caspi, Xakhalin, Muốcmanxcơ, Crưm, Kalinhingrat được cử sang Việt Nam làm việc. Ngày 26-6-1986, Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro khai thác được tấn dầu đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ. Và sự kiện này chính là điểm khởi đầu hoạt động cho một ngành công nghiệp mới, được thực tế chứng minh là đầy triển vọng của nền kinh tế Việt Nam – ngành công nghiệp dầu khí.
Ngoài ra còn có cầu Thăng Long với chiều dài 3.000m với hai tầng lưu thông bắc qua sông Hồng; Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên Quảng trường Ba Đình – Hà Nội được xây dựng trong một thời gian rất ngắn, sử dụng các giải pháp kiến trúc và công nghệ cao; Cải tạo cụm ga đường sắt Hà Nội và mở rộng khổ ray cho tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng, đồng thời đảm bảo chạy tàu bình thường trên tuyến đường sắt Hà Nội – TP HCM… Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật cho lực lượng hải quân Liên Xô và Việt Nam trên bán đảo Cam Ranh được coi là một trong số những công trình quan trọng bậc nhất, đã để lại dấu ấn sâu đậm của người Nga Xô Viết với Việt Nam.
Chính vì những lý do đó mà Đại tướng G.V Leônhiđôvich, Anh hùng Liên Xô, khi là Chủ tịch Hội cựu chiến binh và cựu binh Nga, đã ngay lập tức ủng hộ vô điều kiện sáng kiến của tập thể lao động quốc tế Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro đề nghị xây dựng trên bán đảo Cam Ranh một tượng đài tưởng niệm các công dân Liên Xô, Nga và Việt Nam đã hy sinh trong khi thực thi nhiệm vụ. Và cũng chính vì những lý do đó mà ông T.N. Pêtrôvich, nguyên Tổng giám đốc Công ty cổ phần mở Zarubezhneft, trên tờ trình của Vietsovpetro về việc lưu danh muôn đời những “chiến sĩ Cam Ranh” đã phê duyệt: “Hoàn toàn ủng hộ”. Tượng đài ấy đã được khánh thành năm 2009, trước thềm kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia, một tượng đài thắm tình hữu nghị và tình bạn đã được thời gian kiểm chứng, là biểu tượng sinh động cho sự hợp tác chiến lược giữa hai nước và hai dân tộc.
7. Vịnh Cam Ranh – “dải lụa xanh” tuyệt đẹp, nơi được xem là một trong 3 cảng biển tự nhiên tốt nhất thế giới (cùng với vịnh San Francisco của Mỹ và vịnh Rio de Janéro của Brazil), nơi mà chỉ cần ra khỏi cửa vịnh là có thể tiếp cận với “đường đẳng sâu” 40 m. Đây là lợi thế thiên nhiên tuyệt đối của Cam Ranh so với các hải cảng lớn của nước ta như Đà Nẵng, Chân Mây, Cẩm Phả – những cảng chỉ có độ sâu giới hạn từ 9 – 12m nước. Nếu tính từ đường hàng hải quốc tế vào vịnh Cam Ranh chỉ mất 1 giờ tàu biển, trong khi đó vào Vũng Tàu cách 3 giờ tàu biển, vào Hải Phòng cách 8 giờ.  Không có nơi nào như Cam Ranh, căn cứ mà báo chí nước ngoài chưa từng “rời mắt”. Ben Bland trên tờ “Thời báo Tài chính” (Anh) thậm chí đã gọi Cam Ranh như “một biểu tượng của chiến tranh lạnh” trong bầu không khí nhiều biến động của Biển Đông. Khi Nga cuối cùng rút khỏi căn cứ này vào năm 2002, Hà Nội nguyện sẽ không để bất cứ quân đội nước ngoài nào kiểm được phép kiểm soát Cam Ranh. Nhưng cách đây không lâu, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói sẽ cho tàu hải quân nước ngoài sử dụng cảng theo mục đích thương mại như neo đậu, tiếp nhiên liệu và sửa chữa. 
Các nhà phân tích an ninh nói việc này có thể mang lại một ít lợi nhuận một khi cảng được tân trang lại. Tuy nhiên, lý do chính cho việc mở cửa lại cảng Cam Ranh là để cân bằng với sự nổi trội về quân sự của một số thế lực ở Biển Đông. Hải quân nhiều nước muốn neo đỗ ở Cam Ranh. Tờ South China Morning Post cho rằng, “tương lai của Cam Ranh sẽ là trung tâm của các cuộc đàm phán”. Cam Ranh còn được gọi là “tài sản hải quân hấp dẫn nhất” và việc mở cửa vịnh Cam Ranh cho lực lượng hải quân nước ngoài là một ngón đòn “bậc thầy” trong chính sách đối ngoại “đa phương” của Việt Nam, sẵn sàng chống lại mọi tham vọng thô bạo ngoài ý muốn. Theo giới phân tích Trung Quốc, cùng với việc thực hiện cải cách mở cửa, chiến lược quân sự của Việt Nam đã được điều chỉnh thành “lục thủ, hải tiến” (phòng thủ trên bộ, tiến ra biển) và trong đó Cam Ranh là một trong những con át chủ bài.
Cách đây 10 năm, Tổng thống Nga V. Putin đã thông qua quyết định chấm dứt trước thời hạn sự có mặt của Hải quân và Không quân Nga tại căn cứ Cam Ranh. Tháng 2/2002, khi trả lời phỏng vấn của tờ Wall Street Journal của Mỹ, ông Putin đã tuyên bố quyết định của Nga rời Cam Ranh là đúng đắn, không phải là quyết định bột phát của một người, mà đó là một quyết định quân sự – chính trị có cân nhắc dựa trên thực tế mới và quan điểm của các chính khách cùng giới quân sự, trước hết của Bộ Tổng tham mưu.
Thời gian trôi đi, tình hình đổi thay… Trên thế giới đang nhắc tới sự trở lại chiến lược của Nga ở khắp các đại dương. Những chiến dịch tuần tiễu xa hiện nay của các tàu chiến Nga, việc nối lại những chuyến bay hàng không chiến lược của Nga trên các đại dương và tình hình quốc tế với dấu hiệu gia tăng khủng bố hàng hải, càng làm nổi bật tính cần thiết của việc Nga phải có mặt tại các cứ điểm hải quân và không quân ở nước ngoài – nhận định của Đô đốc M. Abramốp, cựu Tư lệnh trưởng Hải quân Nga. Sứ mệnh của Nga mà lịch sử định đoạt là duy trì Hạm đội, như nhà cải cách Piốt Đại đế từng nói, để luôn có hai tay cả trên đất liền lẫn ngoài biển khơi.
Người Nga chưa bao giờ quên Cam Ranh.

Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2012

Ôi !Movimar cho ngư dân !

Tại hội nghị quốc tế tại Hải Phòng về thông tin trên biển cho ngư dân cách đây 3 năm không thấy ông Tàu Cá nào dự,hóa ra các ổng đang sang Pháp bàn bạc với CLS mua Movimar ,trong khi hội thảo nghiêng về phải tận dụng các trạm vệ tinh hàng hải mà VN đã có ,nâng cấp nó lên ,và tìm cách cấp giá rẻ các thiết bị đầu cuối cho tận tay ngư dân .Movimar thực chất là có một cái chíp theo dõi tàu cá,khó thuyết phục được người dân ủng hộ ,dù cho không (mà đâu là cho không ,từ tiền ODA-con cháu họ và chúng ta trả nợ) vì nó chỉ giúp ở trển theo dõi tàu của họ chứ họ có tương tác được như với những đồ mà họ đang có hay thèm thuồng muốn có đâu :cái Icom gọi nhau (Mai Thanh Hải kêu gọi mãi thì sói  biển Mai Phụng Lưu  mới có lại cái này mà bọn Tàu đã cướp mất ),cái đài báo bão,cái GPS ,nếu sang hơn thì cái hải đồ điện tử ...những "đồ chơi"mà nhiều tàu cá "sang trọng" đã có .Thử hỏi có con camera theo dõi bạn mặc dù giúp bạn khi có cháy là có người biết được (mà có đến cứu hay cứu có kịp thời không là chuyện khác !) bạn có thích không,lại không bảo vệ sự riêng tư của bạn (ngư dân muốn dấu ngư trường của hời của họ vì có ai giúp họ đâu mà đòi kiểm soát) ,cách tốt nhất là bạn cứ gật gù cho lắp camera rồi tắt béng đi .Một dự án áp đặt nhìn từ trên xuống,cũng như chương trình hỗ trợ đánh cá xa bờ hàng đống tiền đã đỗ xuống biển và vào lưới ...túi,rồi sẽ phá sản thôi   .Toàn các chuyện vẽ vời,tốn tiền của dân,đầy nước ta bần cùng trong khi chiếc giàn khoan "khủng" Haiyang Shiyou 981 do Tàu tự chế tạo ,đang lừng lững tiến vào Biển Đông  !Số tiền 14 triệu đô la của Movimar ,các bạn tính xem mua được bao nhiêu cái Icom tương tự như chiếc mà bọn Tàu đã cướp của sói biển Mai Phụng Lưu và các ông ngồi bàn giấy nhìn màn hình Movimar theo dõi sẽ làm gì khi ngư dân họ cần cứu giúp ,cần có một chiếc Icom tối thiểu  ??? 

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Tàu nghiên cứu Biển Đông





  Những hình ảnh của con tàu Biển Đông được chụp tại nhà máy thành phố Bergen Na Uy  
Với tàu nghiên cứu Biển Đông,hình như tôi đã có lần đặt chân để bảo dưỡng các bè cứu sinh bơm hơi ,nhưng có lẽ đã quá lâu rồi.Nó vắng bóng trên tất cả các trang net tiếng Việt,kể cả trang danh sách tàu của Đăng Kiểm VR.Nó có phải là đồ vứt đi như nhiều thứ viện trợ khác của  phương Tây không,không thích hợp với “điều kiện của ta ,con người ta,đặc thù Việ Nam …vân vân và vân vân “ !Dùng Gúc gồ ,tôi cố công tìm hiểu con tàu Biển Đông này ,và chỉ có thể tìm nó bằng tiếng Anh còn tiếng Việt duy nhất có bài báo ca ngợi chuyến cứu con tàu này vào năm 2003.Sự cố cuốn lưới vào chân vịt,chắc chắn 100% là lỗi của thuyền trưởng ,không phải là một anh thạo kéo lưới tàu cá !Lại còn nhắc tới vụ Bạch Đằng chồi lên cạn năm xưa,một chuyện cười của anh chàng Trương Văn Xê !!!Khởi nguồn con tàu này là tàu Dr. Fridtjof Nansen theo chương trình hợp tác giữa Norad Na Uy và Tổ chức Lương Nông LHQ FAO ,tàu được đóng tại nhà máy Mjellem Karlsen thành phố đóng tàu Bergen Na Uy với giá đóng  14,850,000 Kr Na Uy, cộng thêm giá thiết bị khoa học và đánh cá vào khoảng  16,500,000 Kr nữa  (tương đương với  khoảng  66,000,000 Kr vào năm 1995, nếu tính theo dollar Mỹ là US$ 12,500,000).
Nhận thấy con tàu này hoạt động có hiệu quả trong những chuyến khảo sát toàn cầu ,người ta quyết định đóng thêm ba chiếc nữa cùng một lớp với tàu Dr Fridtjof Nanasen đó là tàu Biển Đông cho Việt Nam ,tàu Noruega cho Bồ Đào Nha và tàu Michael  Sars cho Cục Ngư Nghiệp Na Uy.
Tàu  Dr. Fridtjof  Nansen được đóng năm 1974 là một tàu khảo sát ngư nghiệp đạt cấp  IAI-stern trawler theo Đăng Kiểm Na Uy. Tàu có chiều dài LOA 46.35 m, rộng 10.3 m, cao mạn 6.5 m, 491 GT,công suất máy chinh 1500 CV,có giường cho  28 người. Tất cả các máy trên boong là thủy lực ,các tời kéo lưới .Trang bị hàng hải vệ tinh .Có sonar 24 kHz và echosounder  38, 50 và  120 kHz . Ba thế hệ máy phát echosounder của SIMRAD™.Tàu Biển Đông có chiều dài 47.50m,rộng 10.30m,mớn nước tối đa  4.30m
,dung tải  495GT,số IMO 7504251,hô hiệu XVUW,đóng năm 1976,được giao cho Việt Nam năm 1982
Còn dưới đây là một vụ tai nạn tàu Biển Đông và bây giờ không rõ con tàu nằm tại đâu ,chỉ thấy nó xuất hiện trong lần hợp tác nghế cá Việt Trung !


Tàu Biển Đông neo đậu tại vùng biển Hải Giang để sửa chữa,vỏ tàu quá rỉ sét !!

3 giờ sáng ngày 9-10-2003, bà Trần Thị Thu Hà - Giám đốc Sở Thủy sản Bình Định - bị "dựng" dậy bởi một cú điện thoại khẩn cấp được gọi từ tàu Biển Đông (thuộc Viện Nghiên cứu hải sản - Bộ Thủy sản) nhờ ứng cứu vì tàu gặp sự cố nguy hiểm trong khi đang làm nhiệm vụ ở ngoài khơi vùng biển Quy Nhơn. Ngay lập tức, bà chuyển điện thoại cho ông Nguyễn Hữu Hào - Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản (CCBVNLTS), Trưởng ban Tìm kiếm - cứu nạn (TKCN) hoạt động nghề cá trên biển Bình Định. Chưa đầy một tiếng đồng hồ chuẩn bị, ông Nguyễn Hữu Hào cùng 6 cán bộ của Ban TKCN đã mặt trên tàu kiểm ngư BĐ-0999KN. Đúng 4 giờ sáng, con tàu nổ máy xả hết tốc lực hướng về phía khơi xa, sẵn sàng làm nhiệm vụ TKCN.

1. Ông Nguyễn Hữu Hào kể lại: Chúng tôi khẩn trương cho tàu tiến đến tọa độ 13024’ bắc - 109030’ đông, cách bờ biển Quy Nhơn trên 20 hải lý, theo như thông báo của tàu Biển Đông. Nhưng hôm ấy sương mù dày đặc, rất khó định vị; còn cách Cù Lao Xanh 6,5 hải lý, nhìn lên màn ảnh rađa, chỉ thấy hòn đảo này bé tí xíu. Mãi cho đến gần 7 giờ sáng, bằng mắt thường, chúng tôi mới nhìn thấy tàu Biển Đông ở khoảng cách 2 hải lý, đang trôi về hướng nam, tốc độ trôi khoảng 3 hải lý/giờ, và cách Quy Nhơn 27 hải lý. Chúng tôi vừa mừng, và cũng vừa giật mình, vì con tàu to quá, bằng tàu vận tải cỡ 2.000 tấn, không biết con tàu nhỏ - chủ yếu làm nhiệm vụ kiểm ngư, kiêm nhiệm cứu nạn - của chúng tôi có giúp được gì không! Liên lạc với tàu Biển Đông, chúng tôi được biết tàu bị lưới quấn vào chân vịt nên máy tàu không hoạt động được, phải thả trôi tự do, rất dễ dẫn đến tai nạn nguy hiểm cho tàu. Tôi liền trao đổi với thuyền trưởng Đỗ Hồng Giác của tàu kiểm ngư và thuyền trưởng Nguyễn Như Lạc của tàu Biển Đông về các phương án cứu nạn. Quyết định cuối cùng là tàu kiểm ngư sẽ dùng dây cáp kéo tàu Biển Đông về Quy Nhơn, rồi mới tính tiếp cách khắc phục sự cố.
Thuyền trưởng Đỗ Hồng Giác cho biết: Năm 1988, tàu cứu hộ Bạch Đằng - lớn nhất Việt Nam lúc bấy giờ - bị va vào đá ngầm và bị chìm tại vùng biển này (Bạch Đằng chìm là do ngu xuẩn !! DTB bình luận ). Nhìn tàu Biển Đông lớn "quá khổ", tôi cũng lo lắm, bởi tàu kiểm ngư tuy có công suất 550CV nhưng không được thiết kế như tàu cứu hộ. Tôi tìm cách cho tàu tiếp cận tàu bạn rồi móc 2 sợi cáp lớn có đường kính trên 30cm để có thể kéo được. Vì vùng biển miền Trung mùa này có dòng chảy theo hướng Bắc - Nam, tôi xác định nếu không kéo ngược nước được thì sẽ kéo xuôi và cập vào Phú Yên; còn nếu không kéo nổi thì chỉ còn cách báo cáo anh Hào điện về tỉnh xin ý kiến. May mà sau một hồi ì ạch thì tàu Biển Đông cũng "nhúc nhích" dần rồi "chịu đi theo" chúng tôi với tốc độ... rùa bò - 2 hải lý/giờ. Từ 7 giờ sáng đến 19 giờ tối, suốt 12 tiếng đồng hồ vất vả; với tinh thần trách nhiệm và được động viên bởi... những gói mì tôm dự trữ sẵn trên tàu, chúng tôi đã đưa được tàu Biển Đông về đến vị trí phao số 3-4 (dưới chân tượng đài Trần Hưng Đạo) và neo đậu an toàn. Lúc này, cả hai bên đều thở phào nhẹ nhõm; anh em nói đùa rằng: nhìn cảnh tàu kiểm ngư kéo tàu Biển Đông, giống như một chú cá nhỏ đang "lôi" một ông cá voi... tổ chảng!

2- Trong buổi sáng hôm sau, chúng tôi đã có mặt trên tàu Biển Đông. Lúc này tàu đang neo đậu trên vùng biển Hải Giang - Nhơn Hải, vì ở khu vực phao số 3-4 nước quá đục, không thể lặn để xử lý sự cố được nên Ban chỉ huy tàu đã thuê tàu kéo lùi ra ngoài. Đây là con tàu chuyên dùng nghiên cứu biển khá hiện đại, do Na Uy sản xuất, dài 47m, rộng 11m, mớn nước 5,8m. Trên tàu có đầy đủ phương tiện nghiên cứu, gồm thư viện, phòng nghiên cứu khoa học, phòng nghiên cứu môi trường, phòng nghiên cứu hải sản... được trang bị nhiều trang thiết bị công nghệ tiên tiến dùng cho công tác nghiên cứu biển, cùng hệ thống lưới đánh bắt có gắn nhiều máy móc hiện đại. Tàu Biển Đông rời cảng Hải Phòng ngày 1-10-2003 để tiến hành chương trình nghiên cứu, đánh giá trữ lượng các giống loài cá nổi nhỏ trên vùng biển Việt Nam; thủy thủ đoàn gồm 20 người và 12 cán bộ khoa học của Viện nghiên cứu hải sản, do thạc sĩ Nguyễn Viết Nghĩa, Chủ nhiệm đề tài, làm Trưởng đoàn kiêm Khoa học trưởng; đang làm nhiệm vụ trên vùng biển Quy Nhơn thì gặp sự cố.

Vào lúc sáng sớm, Trưởng ban TKCN Nguyễn Hữu Hào đã đưa ra một nhóm thợ lặn gồm 6 người, thay nhau lặn cắt gỡ lưới quấn vào chân vịt tàu. Nói về sự cố xảy ra, máy trưởng Đinh Ngọc Mạnh cho biết: 20 giờ ngày 8-10-2003, sau khi dò tìm được đàn cá, đánh giá được trữ lượng, anh em tiến hành thả lưới đánh bắt để xác định các loài cá nổi nhỏ có ở vùng biển này. 23 giờ, khi kéo lưới, do gió và các dòng hải lưu phức tạp ở các tầng nước nên tàu bị xoay ngang và lưới đã quấn vào chân vịt làm máy chính ngưng hoạt động. Chúng tôi tìm cách khắc phục suốt hơn 3 tiếng đồng hồ, nhưng "lực bất tòng tâm", phải chọn phương án cho tàu trôi tự do và gọi ứng cứu...

Thạc sĩ Nguyễn Viết Nghĩa cho biết thêm: Tuy sự cố nhỏ (tàu trôi,mất khả năng điều khiển không coi là nhỏ trong hàng hải !!) nhưng có thể sẽ dẫn đến tác hại rất lớn. Tàu trôi tự do sẽ mắc cạn hoặc va vào đá ngầm. Trước đó, chúng tôi còn nhận được thông tin có cơn áp thấp nhiệt đới đang rập rình ngoài khơi xa, nên nỗi lo lắng càng tăng thêm. Giữa đêm đen, trong mênh mông biển cả, không thể nói trước được điều gì! Chúng tôi lo cho tính mạng của mấy chục con người và con tàu là tài sản lớn của Nhà nước, lo cho công trình nghiên cứu khoa học đang dở dang... Chúng tôi dự kiến rằng nếu không được ứng cứu thì tàu sẽ mắc cạn hoặc va vào đá ngầm ở vùng biển Phú Yên. Khi gọi được cho chị Hà, rồi khi liên lạc bộ đàm được với anh Hào, biết tàu kiểm ngư đã lên đường, nỗi lo lắng của chúng tôi vơi đi phân nửa. Trước sự nhiệt tình và đầy trách nhiệm cũng như sự giúp đỡ tận tình, đến nơi đến chốn của Ban TKCN thuộc CCBVNLTS tỉnh Bình Định, chúng tôi rất cảm động và cảm phục...

3- Đến 14 giờ chiều ngày 9-10-2003, việc khắc phục sự cố đã hoàn tất, mọi người trên tàu đều phấn khởi, tích cực chuẩn bị mọi việc để sẵn sàng tiếp tục chuyến công tác. Trưởng đoàn Nguyễn Viết Nghĩa đưa chúng tôi đi tham quan khắp tàu, giới thiệu chi tiết về rất nhiều loại máy móc mà cái nào cũng có giá từ 400-500 triệu đến trên 1 tỉ đồng, vừa mới được tăng cường; cùng với giới thiệu các quy trình nghiên cứu khoa học biển... Các thành viên trên tàu cũng rất tự hào về tàu Biển Đông và cho biết rằng nhiều tiến sĩ, giáo sư sinh học biển đã có bước xuất phát từ những chương trình nghiên cứu khoa học trên con tàu này.



Lễ hợp tác Việt Trung cùng nghiên cứu Vịnh Bắc Bộ vào tháng Giêng năm 2006 ,sau không thấy nhắc tới ?
Còn nếu nói tàu cũ,xin thưa ,tàu Calypso của Cousteau chỉ là chiếc quét mìn mà Mỹ vứt đi năm 1941 ,được ông ta mua lại và cải tiến ,là mra bao của cải tinh thần ! 

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

NHỮNG GHI CHÉP VỀ BỂ THỬ TÀU

Để chuẩn bị ý kiến về bể thử tàu,hôm qua mình đã phỏng vấn Đinh Khắc Minh từ xa ,người chủ trì phương án này.Cậu ta bảo vệ phương án một cách quyết liệt,khiến mình thấy phải chuẩn bị khá chi tiết ,vì không ai tự rời bỏ nồi cơm của mình cả ,chẳng cần biết trời đất ra sao.Nói chuyện với Nguyễn Khắc Hiền  mới biết cậu ta đã thực hành bể thử một năm tại St Peterburg (Leningrad ) vào các năm 1980-1981  .Trước hết Hiền cho biết không thực tập tại LKI mà là Đại học Giao thông thủy vì nơi đó có bể dài hơn tới 120 mét .Hình như Đại học này mình đã tới ,và gặp Phương con Đinh Viết Phong vào năm 1991 trong chuyến du lịch nước ngoài đầu tiên trong đời .ЛИВТ-Ленинградский институт водного транспорта nay là Санкт-Петербургский государственный университет водных коммуникаций (СПбГУВК) tên tiếng Anh là  St.Petersburg State University of Water Communications .và trang chủ của nó là http://www.spbuwc.ru/univer.html

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Vài suy nghĩ nhân tai nạn Costa Concordia

Năm 2008 ,vợ chồng chúng tôi đã thực hiện một chuyến du lịch một tuần trên biển Carribean bằng tàu Freedom of the Seas ,con tàu cruise lớn nhất,xa hoa nhất thế giới lúc bấy giờ,với số lượng người gấp rưỡi số người trên Costa Concordia vừa gập nạn (sau này kỷ lục thuộc về Oasis of the Seas) nên hình dung ra sự hoảng loạn khi tai nạn xảy ra .Mặc dù các loại cruise này trang bị cực kỳ hiện đại với hệ số dự trữ an toàn rất cao .Tôi đã chứng kiến cuộc thử các thiết bị cứu sinh của một tàu cruise khác khi tàu Freedom của chúng tôi nghĩ tại cảng thuộc Virgin Island:các xuồng ,các ống tụt ,các bè được tung ra như thật ...  Một cuộc thử hàng năm rất dắt tiền để kiểm tra an toàn .Chắc là chiếc Concordia cũng được thử như vậy nhưng khi cần lại chẳng cái nào hoạt động...!Cho nên ,đi biển là một adventure và người phát biểu đúng nhất trong các sếp công ty vừa qua thông qua tai nạn Vinalines Queen,không phải là các sếp hàng hải mà là sếp bảo hiểm.Trong khi sếp hàng hải luôn ngạc nhiên là tàu chúng tôi hiện đại thế mà chìm chắc là do bí ẩn ,Act of God tối cao nào đó thì sếp bảo hiểm biết mình luôn kinh doanh rủi ro và nếu biết hàng nickel hóa lỏng có nguy cơ cao,chắc ông ta sẽ đòi bảo hiểm trên giá trị con tàu 27 triệu !
Tai nạn nào rồi cũng tìm thấy chủ yếu là do con người,human factor .Nếu trên tàu Freedom of the Seas ,tôi đã có dịp nói chuyện với thuyền trưởng,một con sói biển già dặn ,người Thụy Điển,vóc dáng chững chạc,chắc chắn như một cây cổ thụ giữa biển khơi (các tàu cruise này không dùng thuyền trưởng nước đang phát triển,kể cả Ukraina,những thuyền trưởng sáng giá trên thị trường lao động hiện nay) thì chỉ nhìn mặt ông thuyền trưởng Francesco Schettino của Concordia đã thấy không thể tin được.Ham chơi,mải uống rượu với người đẹp thì làm sao chăm lo được con tàu với sinh mệnh hàng nghìn hành khách.

NHỚ LẮM LỚP VỎ TÀU KHÓA BA !




Ông Trịnh Đức Chinh ,nguyên lãnh đạo đăng kiểm Việt Nam ,chuyển cho mình giấy mời với đầu đề "Thư mời Lễ Kỷ niệm 50 năm thành lập khoa Cơ Khí Trường Đại học Giao Thông "tổ chức vào sáng ngày 21 tháng Tư 2012 tại hội trường Đại Học GTVT thành phố HCM .Mừng quá,ngoảnh đi ngoảnh lại đã nửa thế kỷ .một chớp mắt của lịch sử .Nhớ lắm chứ ,cái cơ khí giao thông ,cái vỏ tàu ,máy tàu đầu tiên của nước Việt Nam độc lập ,nhờ có nó mà cái thằng tôi mới có cái nghề này ,mới có dịp lênh đênh trên một vài con tàu,mới có dịp bay ra giàn khoan để thấy Biển Mẹ ,để biết yêu Hoàng Sa Trường Sa ,mới có điều kiện đặt chân tới nời tàu Titanic ra đi và bến cuối mà nó không tới được,mới biết cầu tàu 88 Newyork nơi mà Yurkevitch tài danh lên cơn đau tim trước cảnh con tàu Normandie của mình lật nhào ,mới có chút tài sản để sống tạm gọi là độc lập trong một xã hội đầy nhiễu nhương này !Cám ơn Thượng Đế ,cám ơn số phận ,cám ơn các thầy giáo đã truyền lửa cho mình lòng yêu nghề,cám ơn cả cái ông Thái Tồ Chức chuyên mặc áo da chính ủy luôn xoi mói mấy thằng sinh viên thuộc gia đình "có vấn đề",cám ơn ông Lầu dậy môn chính trị Mác Lê mà mình suýt rớt vì không nói trúng thế nào là "quy luật kinh tế căn bản của chủ nghĩa XH"cũng như tới bây giờ mình cũng chẳng trình bày được cái quy luật kinh tế thị trường định hướng XHCN là gì ! Nhớ lắm chứ,ngày nhận giấy báo trúng tuyển đại học .Lúc đó đơn vị mình đang đóng quân trên đồi cao Khu Đội Quảng Ninh ,nhìn xuống bến phà Bãi Cháy   .  Chuyện đó khá dài,để sau kể tiếp.Bây giờ xin tóm tắt tư liệu.Sau đây là mục Vỏ Tàu khóa Ba mà mình đưa vào cuốn "Bách Khoa Hàng Hải và Đóng Tàu" bản pdf treo trên mạng.Bản in đang chữa,sẽ xuất bản trong năm nay   

Vỏ Tàu khóa Ba –tên gọi tắt lớp đào tạo kỹ sư vỏ tàu đầu tiên của Việt Nam tại trường Đại Học Giao Thông (Cầu Giấy –Hà Nội) 1962-1966 .Sở dĩ khóa đầu tiên mà mang số 3 vì đánh số cho khớp với các khoa đầu máy,toa xe…đã có hai khóa trước đó.Sau này,khi vỏ tàu chuyển sang Đại Học Đường Thủy ,Đại Học Hàng Hải ,các khóa sau vẫn tiếp tục được đánh số cho tới hiện nay .Các thầy giáo trẻ tuổi được đào tạo tại các nuớc XHCN về thẳng trường biên soạn những giáo trình chuyên môn đầu tiên cho các sinh viên xuất thân là học sinh phổ thông hoặc cán bộ đã công tác.Đó cũng là lúc đóng con tàu 1000 tấn đầu tiên và cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt .Có thể kể tên một số thày giáo  :Đào Vũ Hùng (từ Liên Xô),Hồ Xuân Trí (từ Ba Lan),Trần Văn Phương,Đặng Hộ (từ Trung Quốc)...Sinh viên tốt nghiệp đã góp phần xây dựng ngành hàng hải non trẻ của đất nước ,một số anh em như :
-Nguyễn Bân –Cán bộ được cử đi học,tiếp tục ở lại trường giảng dạy,đào tạo nhiều cán bộ hiện đang giữ nhiều nhiệm vụ tại các cơ quan đăng kiểm,vận tải,đóng tàu…
-Lê Sĩ Dược –Vụ trưởng văn phòng chính phủ
-Trần Công Chánh-kỹ sư ,có nhiều đóng góp cho cuộc chiến tranh chống phong tỏa đường biển
-Mai Trần Diếu,trưởng phòng kỹ thuật công ty VOSCO
-Nguyễn Văn Lai-Phó tổng giám đốc công ty vận tải dầu khí Falcon
-Trần Ngọc Ninh-giám đốc Nhà máy đóng tàu Phà Rừng,đã mất 
-Đoàn Văn Líu –nhà hoạt động từ thiện,được nhân dân và Nhà Nước khen ngợi,đã mất 
-Trịnh Minh Phúc-tổng giám đốc Bảo Hiểm PJICO…
-Hoàng Trần Định -giám đốc nhà máy đóng tàu Hạ Long (địa phương) nay là nhà máy đóng tàu Than của tập đoàn than

Còn đây là ảnh chụp buổi họp mặt ngày 20/10/1996 nhân kỷ niệm 30 năm ngày ra trường ,cả thày và trò (thiếu Nguyễn Bân,giai đoạn này ít liên hệ với lớp cũ,có lẽ vì bận làm thầy )   ,nay cũng đã hụt mất mấy người .Phía dưới là danh sách lớp và danh sách các thày giáo chuyên môn



  Tóm tắt lớp có 28 người (danh sách lập thiếu bác Đúng ,cán bộ miền Nam chơi đàn cò và hát cải lương rất tình cảm,sau có thêm hai sinh viên nữa là Sơn và Huỳnh Quang Thạch từ Nga về  ),trong đó 15 là cán bộ được bổ túc văn hóa cho đi học ,1 là thằng tôi Đỗ Thái Bình  nửa nạc nửa mỡ mới làm "cán" có hai năm,còn lại 12 mống là từ học sinh phổ thông.Đủ biết các thầy giáo gay go ra sao với một thành phần học sinh như vậy ,mà cái khoa vỏ tàu được thầy Hùng kiêu hãnh luôn nhắc là "lên vỏ,sang máy tàu,xuống kinh tế !",một ngành khoa học naval architecture gắn với toán,với chuỗi Fourier Lagrange ,với Euler ...tức là luôn gắn với thánh đường khoa học của loài người !!Không có ý dám chê "cán bộ bổ túc 2 năm xong trung học ",vì trong năm đầu học chung toàn khoa cơ khí ,tôi được biết anh Bùi Mạnh Xuân (cán bộ giao thông) ,anh Niệm (vốn là công nhân vô tuyến điện trong chiến tranh ) là những sinh viên rất xuất sắc,có cái đầu phân tích sắc bén.Còn nhớ ,một vài bài giải tích ,chúng tôi thường giải rất nhanh vì tôi đã học trước trong những ngày đi dạy học tại Khu Đội Quảng Ninh ,thực chất tôi chỉ là con gà đã được nhồi trước nên được nghỉ môn Nga văn và nhiều giờ toán chỉ nghe và có nhiệm vụ buổi chiều kèm cặp anh em trong lớp.Nhưng với anh Xuân và Niệm là những vấn đề mới ,có những lý giải rất hay mà thầy Thao (buổi tối cùng dạy bổ túc văn hóa lớp 10 tại trường với tôi ) phải ngạc nhiên !Không thể hiểu tại sao người ta không cho các anh Xuân,Niệm vào học vỏ tàu mà lại để cho các ông Áng,Hường    học lớp này,thật  sự bắt tội,làm khổ các ông này ,vừa là cán bộ mới qua lớp tinh giản phân số,vừa chưa cùng ai trong khi đã gần 40 cái xuân xanh,những thúc ép sex ,làm sao mà yên tâm học được !Có lẽ ,trong tương lai sẽ có nhiều công trình nghiên cứu về tinh thần biển,về triết lý biển quốc gia ,về những tư tưởng lớn của đất nước quyết tầm tiến ra biển nhưng sự thật về cấu trúc lớp sinh viên vỏ tàu đầu tiên cho ta  thấy các nhà hoạch định chiến lược cán bộ còn "Mao ít hơn Mao",còn đề cao Hồng hơn Chuyên hơn cả  những nhà chuyên trách cán bộ bảo thủ nhất !Biết làm sao được ,trong khi biển đòi hỏi nhiều trí lực,nhiều tiền của .Trong khi tại xứ của Mao thật,người ta nói vậy nhưng vẫn nuôi người tài về biển và ngày nay mới có Chu Kế Lâm ,ông vua tàu ngầm tí hon ,đã chế tạo chiếc Giao Long đâm thẳng xuống trái tim Biển Đông của chúng ta !



Dây là học bạ của tôi ,còn cái bằng kỹ sư vỏ tàu đã cho rơi xuống biển Hà Cối trong chuyến đi vượt rào bất thành năm 1985 .Vì không có bằng nên khi trình thi PhD tại Mỹ cũng lôi thôi một chút 


Tư liệu về một số địa chỉ anh em: (Mai Trần Diếu biết rõ hơn )

1/Trần Công Chánh- 109 (71)  Lê Lai Đà Nẵng  0511-3863494  con gái Nguyệt -090-516-8393.Rất khỏe,nhiều phụ nữ yêu ,chơi với bạn chân tình .Nhiều sáng kiến với tư cách kỹ sư thực hành
2/Nguyễn văn Lộc -090414-0847  Giam doc chi nhanh duong song 01 so nha 246 Khanh Hoi
3/Đoàn Văn Líu -đã mất .Hàng trăm gia đình biết ơn vì Líu đã bỏ công sức tìm mồ mả liệt sĩ.Khi Líu mất DT Bình đã có bài khóc bạn trên trang nhất báo Tuổi Trẻ
4/ Nguyễn Hữu Tố - thày đã mất .DTBinh có bài khóc thầy trên blog.con gái Nguyễn thị Hồng res 031-735887 .con rể trước là phó phòng công nghệ BD nay sang Vitranschart đóng mới tại HP
5/Phạm Văn Nghiên -Thày đã mất ,cháu cụ Đồng ,sống rất "NGƯỜI". Viện Quản Trị Doanh Nghiệp của thày cứu rất nhiều ông trí thức "ngụy" vượt khó khăn về cơm áo
6/ Nguyễn Kim Lân toa xe ,093-355-3969 nhà 08- 38627512//Kỹ sư xe lửa nổi tiếng,tác giả nhiều cuốn sách,thày của khoa cơ khí ngày đầu
7/Đoàn Trọng Hùng-con út Đoàn Kim Quang,giám đốc Tam Bạc/Xưởng Ba -090-393-6246,vỏ khóa XX
8/Phạm Văn Năm 08-54121021 nhà A 29 Nam Quang 02 Phú Mỹ Hưng
9/Đào Việt Hưng -090-392-1387
10/Nguyễn Tùng Châu-063-3822429;33/5 Phan Dinh Phung Da Lat,cán bộ đi học,máy tàu khóa Ba ,giám đốc Sở Công Nghiệp Lâm Đồng,hội viên hội nhà văn Lâm Đồng
11/Nguyễn Văn Lai phó tổng Falcon 091-321-0425
12/Mai Trần Diếu 08-35120106 //097-834-1447,bạn chân tình của giới hàng hải,anh em thân mật gọi là Mai Trần Rượu .Ngay trong những ngày bao cấp đầy dối trá ,hiếm có người chân thành như vậy !
13/Đào Vũ Hùng -Nhà riêng :16A ngõ 135 đường Đình Đông Hải Phòng;Điện thoại 031-3639823;con gái cô giáo Lan-0936091566,con trai đầu  Dào Học Hải 098-935-1494;08-38040337;Daohoc_hai@yahoo.com
14/Nguyễn Bân sinh 16/06/1929,Vỏ Tàu khóa Ba đã làm lễ mừng thọ 80 cùng thầy Hùng năm 2009 tại Hải Phòng
15/Nguyễn Văn Mưu 031-3833632 ,giám đốc đăng kiểm địa phương Hải Phòng mất ngày 15/08/2011;con gái Hạnh giám đốc một chi nhánh Ngan Hang  Hang Hai Sai Gon HP,chồng là Hoang Đức Chính -con trai Capt Hoàng Văn Duyệt- 0903758898,giám đốc PV Trans
16/Hoàng Trần Ðịnh nhà 033-846328  di động 091-326-4780,số 8 Cái Dăm Hạ Long ,giám đốc đóng tàu Than
17/Hồ Trọng Tuy ở lại dậy cùng Nguyễn Bân ,đã mất ,nhà 117 Lê Thị Riêng Sài Gòn
18/Hoàng Ngọc Hữu họa sĩ Ba Lan ,nhà 53-313 Wroclaw Poland tel 0048-717-936-502 HP 0601644426 email ,con gái về Sài Gòn  học nhạc viện,vừa đi 
19/Đăng Ngọc Hường ,sau lưu ban sang khoa đường sông,ra trường làm tổ chức hàng không ,nhà tại 1 A Trường Sơn Sài Gòn ,mất tháng 04/2009
20/Huỳnh Ngọc Sang  077-3879019,lấy con gái Nguyễn Thanh Ba giám đốc Bạch đăng-Ba Son nhà 138 A duong Võ Trường Toản khu Quang Trung F Vinh Quang Rạch Giá Kiên Giang  ,cho biết có thời gian dậy bổ túc văn hóa cho thủ tướng Ba Dũng
21/Thày Trần Văn Phương 08-38206475 ;51 Thạch Thị Thanh Sài Gòn
22/Hoàng Viết Phẩm 08 Cát Dài Hải Phòng 090-406-5668 ;sau khi nghỉ hưu từ Vosco ,tiếp tục làm thêm vài năm cho ban đóng mới Vitranschart.Vừa đi du lịch châu Âu về
23/Đỗ Đức Tiến ,ở lại dạy tới khóa 07 sau đó sang công ty pha sông biển 04-38214281
24/Lê Sĩ Dược Văn Phòng Chính phủ về hưu 091-206-5949


                                          Thầy Hồ Xuân Trí (đã mất) và Đào Vũ Hùng
                                         Thầy Trần Văn Phương và Phạm Văn Nghiên (đã mất)
                                               Đỗ Thái Bình và Mai Trần Diếu
                                               Lê Sĩ Dược và Hoàng Trần Định
                                              Hoàng Ngọc Hữu và Đặng Ngọc Hường (đã mất)
                                                 Vũ Văn Khoái và Nguyễn Văn Lai
                                         Đòan Văn Líu (đã mất) và Nguyễn Văn Mưu (đã mất)
                                          Trần Ngọc Ninh (đã mất) và Hoàng Viết Phẩm
                                               Nguyễn Văn Phiêu và Trịnh Minh Phúc


                                                  Nguyễn Quốc Trượng và Đỗ Đức Tiến


         Thư của Trần Công Chánh viết về những ngày rà phá thủy lôi ,anh chiến đấu rất  dũng cảm
Tôi nhớ lại cái ngày nhận được giấy báo nhập trường.Anh quân bưu vừa leo lên dốc Khu Đội đã vội báo cho cậu giáo Bình cái tin trúng tuyển Đại học Giao thông vận tải.Tôi đã khéo chọn ngành đầu máy toa xe ,chứ không còn mơ tưởng tới khoa vô tuyến điện tử Bách khoa,ngành vàng ,đòi hỏi lý lịch trong sạch tới 10 đời .Vào trường được ít lâu ,học lớp Máy I A ,sau đó mới phân lớp Vỏ Tàu.Khi viết thư về Khu Đội Quảng Ninh báo tin cho ông anh kết nghĩa Trần Minh Thái,ông anh cười ngất :Thằng cha Bình gầy yếu,người mỏng dính chả thế mà hồi học phổ thông chúng bạn gọi là Bình pơ luya (mỏng như tờ giấy pơ luya ) thế mà đi học môn Võ Tàu !!! Trần Minh Thái sau này là nhà thơ nổi tiếng,có mấy câu thơ hay trong tuyển tập 1000 câu thơ hay nhất Việt Nam,nay đã mất .Còn thủ trưởng Khu Đội,ông Vũ Đình Mai cũng đã từ biệt cõi đời 4,5 năm nay.Khó có một ông cán bộ quân đội,nguyên là lính khố xanh của Pháp lại đầy nhân nghĩa như vậy.Còn nhớ,cách đây hơn 10 năm khi về Quảng Yên tìm thăm thủ trưởng cũ,cụ Mai vẫn một điều "đồng chí thầy giáo" hay điều "đềng chí Bình" thân mật có phần cung kính.Chả là lúc học,cụ đã già ,làm toán kém ,mình phải kèm thêm trong khi đường đường là thủ trưởng cả một Khu với hàng trăm bộ đội thường trực hàng vạn dân quân tự vệ .Con của cụ đều làm to,là những cán bộ công an mật được cử sang Hoa Kỳ ngày đầu tiên.Con rể là cậu giám đốc nhà máy đóng tàu Hạ Long,lấy cô giáo Phượng,con gái út của Cụ.











       

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

THĂM NGHĨA TRANG NẠN NHÂN TITANIC !


Nhân kỷ niệm 100 năm sự kiện tàu Titanic,tôi nhớ lại những chuyến công tác du lịch ,tôi đã có dịp tới thăm cảng Southhampton nước Anh ,nơi con tàu đã xuất bến ,thăm cầu tàu 88 Newyork Hoa Kỳ nơi con tàu dự định cập bến và nghĩa trang tại Halifax Nova Scotia Canada chôn cất những con người xấu số 

Con tàu "xe tang" Mackay-Benneth 

THĂM NGHĨA TRANG NẠN NHÂN TITANIC
Năm 1997 ,vào những ngày kỷ niệm 85 năm ngày ra đi của Titanic ,tôi đã có cơ may có mặt tại cảng Halifax vùng Nova Scotia Canada .Lần đẩu tiên có dịp được sang phương Tây,lại đi họp về an toàn trên biển  tại St John ,một thành phố Canada không xa Bắc Cực là bao.Trên đường quay về ,tôi quyết định dừng lại Halifax hai ngày với mục đích duy nhất ,xem lại những di vật của con tàu Titanic vì thật  khó mà có một chuyến đi xa như vậy.Nhìn lên bản đồ các bạn có thể hình dung từ sân bay Tân Sơn Nhất ,chúng ta vượt Thái bình Dương mênh mông sau khi quá cảnh Đài Loan .Hạ cánh xuống Vancouver ven bờ Thái Bình Dương ,chúng tôi chuyển máy bay cắt ngang nước Canada tới Toronto rồi từ đó lại lấy máy bay theo hướng Đông Bắc tới Halifax .Tới đây lại phải chuyển máy bay sang hãng bay chuyên vùng Bắc Cực để tới St John và cũng chính hãng này đưa tôi quay lại Halifax.  Lang thang trên bến cảng Halifax chúng ta có dịp sống lại những ngày mà người di dân lũ lượt kéo từ châu Âu già nua sang vùng đất mới với “Giấc Mơ Mỹ”.Bên cầu tàu số 21 là bảo tàng di dân ,các cửa hàng bán đồ lưu niệm với đầy đủ rương hòm ,quần áo hệt như chàng Jack-Leonardo Di Caprio và nàng Rose-Kate Winslet đã sử dụng trong chuyến đi định mệnh.Như ta đã biết,hành trình của Titanic là tới New York nước Mỹ,nhưng con đường đi lúc đầu là phải chệch hướng Bắc sau mới chuyển hướng nên khi xảy ra tai nạn,Halifax là nơi vớt được nhiều thi thể,nhiều người sống sót ,nhiều đồ đạc của cải nhất  . Titanic va vào tảng băng và chìm vào hồi 2 giờ 20 phút sáng ngày 15 tháng Tư năm 1912,con tàu đầu tiên tới cứu là Carpathia cùng một chủ tàu với Titanic ,đã vớt được 700 người sống sót .Chủ tàu White Star cũng yêu cầu các con tàu Canada cùng cứu vớt các người sống sót và các thi thể .Ngày 17 tháng Tư chiếc tàu đặt cáp có tên là Mackay-Benneth đã rời cầu tàu Halifax lên đường với một mục sư,một ông chủ tế tang lễ ,một khoang nước đá ướp lạnh thi thể,các cỗ  quan tài và nhiều túi bạt để thủy táng .Sau 5 ngày lùng sục trên biển con tàu “xe tang “ này  trở về cảng với 200 thi thể trong các quan tài ướp đông còn 116 thi thể khác do đã bị phân hủy nên phải thủy táng tức là đưa xuống biển trong các túi bạt sau một lễ nghi tôn giáo

 Ngôi mộ của chú bé vô danh  
Từ nhà trọ cho du khách ba lô trên đường Barrington gần bến cảng ,tôi lấy xe bus lên nghĩa trang Fairview (Cảnh đẹp) ở phía Bắc thành phố .Như các thành phố đồi núi đổ ra biển,xe bus liên  tục leo và đổ dốc ,giống hệt như ta đang đi trên đường phố lên thăm nhà thờ thành phố Hồng Gai quê nhà .120 trong số 200 thi thể nạn nhân Titanic ,số lượng tập trung lớn nhất ,được chôn cất nơi đây khiến cho Fairview trở thành nghĩa trang nổi danh suốt một thế kỷ qua.Cuộc “Nổ Lớn “ ,một tai nạn thảm khốc cho thành phố này sau Titanic 5 năm ,tức là vào ngày 6/12/1917 cướp đi sinh mệnh hơn 2 nghìn người làm cho nghĩa trang này càng thêm đông đúc ,trong đó có nhiều sắc dân di cư .Bởi vậy nghĩa trang có hẳn một khu mộ Tàu với khói hương Á Đông nghi ngút  trong khi khu vực Titanic ,các ngôi mộ theo hàng thẳng tắp và đều nhau những tấm bia nhỏ bằng đá granite màu xám .Lẩn  theo các hàng bia ,ta có thể đọc tên người kéo vi ô lông dũng cảm  John Law Hume trong trong dàn nhạc chơi tới tận phút cuối cùng hay anh thợ xúc than J.Dawson cùng chết với con tàu trong hầm lò nồi hơi .Sau khi cuốn phim của đạo diễn James Cameron ra đời ,nhiều người cho là ông đạo diễn đã tạo ra nhân vật Jack –Leonado Di Capro trong phim từ  nguyên mẫu anh thợ xúc than nói trên nên ngôi mộ thường xuyên tràn ngập hoa tươi !      Nhưng ngôi mộ có nhiều hoa nhất ,được nhiều người thăm viếng nhất là ngôi mộ với dòng chữ “Bia này dựng lên để tưởng nhớ một hài nhi vô danh mà thi thể đã phát hiện được sau thảm họa cho tàu Titanic vào ngày 15 tháng Tư năm 1912”.Cuộc truy tìm thi thể vô danh đã kéo dài gần một thế kỷ và gần đây người ta đã trả lại  tên cho chú bé ,đó là  Sidney người Anh của dòng họ có tên là Goodwin .Còn nhiều nấm mộ vô danh khác ,nhưng ngày nay ,chỉ cần nhấn một nút vào trang chủ của nghĩa trang trên màn hình máy tính ,ta có thể đọc lại hồ sơ của nạn nhân khi được vớt lên tàu.Hồ sơ chú bé vô danh  ghi rằng :
“nạn nhân số 4-con trai ,khoảng hai tuổi,tóc màu sáng .Quần áo -   áo khoác màu xám có lông trên cổ và tay áo ;váy yếm bằng vải serge màu nâu ;váy lót dài;áo quần bằng vải flannel;áo lót trong bằng len màu hồng ;giầy nâu có mang tất .Không có đặc điểm gỉ khác .Có lẽ thuộc hành khách loại ba “Đó là tất cả những gì mà thủy thủ con tàu đi vớt xác biết được và khi chôn cất chú bé,chính anh em đã xúc động ,ném thêm vào quan tài chiếc dây chuyền thủy thủ bằng đồng với lời ai điếu “Tặng con của chúng tôi”.Cuộc truy tìm tông tích của người quá cố kéo dài nhiều năm nhưng phải tới lúc có công cụ phân tích DNA ,công việc mới ngã ngũ.Nhưng cũng chẳng đơn giản chút nào,dù đã dùng công cụ DNA vì lúc đầu vào năm 2002  ,người ta cho rằng đó có thể là một trong ba trường hợp,chú bé người Thụy Điển ,người Ireland hoặc người Phần Lan ,tất cả đều cỡ tuổi đó,đều có tóc màu sáng !Phải tới ngày 30/07/2007 một phòng thí nghiệm của trường đại học Lakehead của Canada dùng các phương pháp DNA hiệu nghiệm nhất ,so sánh giữa DNA của phần thi thể được khai quật với DNA của những người thân còn sống ,họ mới trả lại tên chính xác là chú bé Sidney ,19 tháng tuổi ,con út tức thứ sáu của gia đình ông bà Goodwin   .Toàn bộ gia đình gồm 8 người đã chết cùng con tàu!

Đôi giầy nâu  trong Bảo Tàng Đại Tây Dương 
Mùa lễ kỳ niệm 100 năm Titanic năm nay,nhà Bảo Tàng Đại Tây Dương của thành phố Halifax lại có dịp trả lại tên tuổi đầy đủ cho một di vật của Titanic  đã trưng ở đó nhiều năm ,đó   là một đôi giầy nâu trẻ em .Đã từ lâu ,những nhà nghiên cứu của Bảo Tàng này cho rằng đôi giầy hiện vật mang ký hiệu số “M2005.4.1A+B” có thể thuộc về chủ nhân là “chú bé vô danh “ số 4 chôn cất tại nghĩa địa Fairview.Đôi giầy này được một người cháu của một chiến sĩ  cảnh sát tên là Clarence  giao lại cho Bảo Tàng vào năm 2002. Tài liệu của sở cảnh sát ghi rằng  “Tất cả quần áo của các nạn nhân đều được cảnh sát chúng tôi đốt hết nhằm tránh tình trạng săn lùng của những người sưu tầm đồ kỷ niệm .Nhưng anh Clarence nhìn thấy đôi giầy da nâu dài khoảng 14 cm ,anh thấy không nỡ lòng nào lại đốt đi nên cho vào ngăn bàn sở cảnh sát cho tới 6 năm sau,khi anh chuyển về Ontario vào năm 1918 “ Người ta lật tìm các ca ta lô giầy dép và đề nghị tư vấn từ các chuyên gia các viện bảo tàng về quần áo và giầy dép để chứng minh rằng đôi giầy này mang phong cách giầy dép những năm 1900-1925 và có nhiều khả năng sản xuất tại Anh .Với nhiều bằng chứng khác,đôi giầy này giờ đây đã mang tên chủ nhân là chú bé Sidney Goodwin 19 tháng tuổi và câu chuyện về chuyến hành trình định mệnh của gia đình Goodwin như sau .Nhận tin từ ông em Thomas Goodwin đã di cư từ trước sang vùng thác nước Niagara Hoa Kỳ  báo tin làm ăn tấn tới,ông thợ sắp chữ nhà in tên là Frederic vội vàng thu xếp gia đình để lên đường .Chẳng là vùng thác nước sắp mở nhà máy thủy điện ,cần rất nhiều lao động trong khi nước Anh đang thất nghiệp mà gia đình Frederic rất nặng nề ,một “đoàn tàu” với 6 đứa con ,cậu trai lớn mới 16 tuổi và út ít Sidney 19 tháng tuổi.Họ chỉ đủ tiền mua vé  hạng bét tức hạng ba và khi lên tàu thì ông bố và lũ con trai ngủ đằng mũi tàu còn bà vợ và chú bé út cùng hai cô con gái ngủ đằng đuôi tàu .Như ta đã biết ,khi tai nạn xẩy ra ,nhiều hành khách nghèo khổ với vé hạng bét rất ít có cơ hội sống sót .Leo được tới boong trên cùng có xuồng cứu sinh thì tất cả xuồng đã được thả hết !

 Hành khách nhỏ tuổi Sidney Goodwin còn nắm xương trong nghĩa địa trong khi bảy thành viên của gia đình ,những người đi vé loại bét ,đã nằm sâu dưới đại dương một thế kỷ 

Những cái không thể lại thành có thể !         
Khi Titanic đi vào cõi chết ,toàn thế giới bàng hoàng ,Người ta không thể hiểu nổi ,một con tàu “không thể chìm “ (unsinkable) lại có thể chìm nhanh đến thế ,giết chết một lúc hàng nghìn người như thế !”Không thể chìm “ không chỉ là lời quảng cáo của ông chủ hãng tàu “Ngôi Sao Trắng” mà còn là niềm tin của ngay giới kỹ thuật,của đông đảo những người đi tàu ,cũng là niềm tin của cả xã hội  .Tàu đã trang bị những thành quả mới của thế kỷ 20 như vách kín nước,như điện báo tạch tè –những chuyện tầm thường với những kẻ sống trong thế kỷ 21 như chúng ta nhưng là điều kỳ diệu 100 năm trước  !Cùng là niềm tin “không thể chìm “ với ông chủ tàu con tàu chở hàng hiện đại Vinalines Queen đang yên giấc ngàn thu tại đáy biển Thái Bình Dương sâu trên ba nghìn thước nước .Nếu Titanic chỉ có vài món hiện đại thì những “đồ chơi điện tử “ của con tàu Vinalines Queen vừa qua đã được báo chí kể ra khá dài ,toàn các từ chuyên môn khiến độc giả ngoài nghề phải nhức đầu ,nào radar,đo sâu ,nào Arpa,phao sự cố vệ tinh Epirb…Bất cứ một người đi biển nào khi được hỏi lý do đẻ ra nhiều thứ “linh tinh “ trên tàu như thế ,họ đều nhắc tới một sự kiện,một con tàu ,đó chính là Titanic .Cú sốc ghê gớm năm 1912 đã thúc đẩy thế giới hàng hải phải thay đổi,phải có cái nhìn mới về an toàn sinh mệnh của con người trên biển .Nhiều đạo luật ,công ước ,nhiều thiết bị mới liên tục ra đời trong suốt một thế kỷ qua .Con tàu trở nên cồng kềnh hơn,hiện đại hơn và tất nhiên ngày càng đắt tiền hơn .Hy vọng là nó ngày càng an toàn hơn ,nhưng trên thực tế  không hòan toàn  như vậy.Cũng vào dịp này cách đây hai năm,ngày 4/04/2010 ,cả thế giới chứng kiến cuộc khẩu chiến ngoại giao giữa Trung Quốc và Úc vì một sự kiện động trời .Con tàu chở than trọng tải 65 nghìn tấn Trung Quốc sau khi chất đầy món hàng mà nước này đang cần thiết ,nều không muốn nói là đang đói khát đó là than ,là quặng sắt để phát triển một nền k8inh tế quá nóng và bất chấp môi trường ,đã rời cảng Úc ,trực chỉ Thượng Hải .Thay vì đi theo con đường người ta đã vạch sẵn ,con tàu khổng lồ lại đâm quàng vào khu rừng san hô nằm dưới đáy biển ,một di sản thiên nhiên mà người Úc tự hào ,cho rằng hiếm có di sản dưới nước có thể nhìn thấy từ vũ trụ.Kết quả là một vạt rừng san hô bị phá nát ,là dầu tràn  ra biển…những điều được cho là kinh khủng với những người cực ký quý báu môi trường sống ,vì máy móc,vật dụng  có thể chế tạo lại được còn làm sao có thể tái tạo lại được các di sản của thiên nhiên !Nguyên nhân của cuộc hành trình “không giống ai “ này của con tàu Trung Quốc hiện đại này thật đơn giản .Anh đại phó chỉ huy con tàu đêm hôm đó đã quá mệt mỏi ,xao lãng trong việc quan sát các thiế t bị chỉ đường .Mà như ta đã biết,một khi thiếu bàn tay khối óc con người,đống thiết bị điện tử của thế kỷ vũ trụ mà ta đã kể ở trên chỉ còn là một đống sắt câm điếc ,vô tri vô giác ,chỉ là một món hàng trưng diện “đồ chơi điện tử”.Con người,yếu tố con người  ! chưa bao giờ  các đạo luật an toàn trên biển lại chú ý tới yếu tố con người như ngày nay với biết bao quy định về giáo dục,đào tạo,huấn luyện ,thực tập,kiểm tra người đi biển đã ra đời.Nhưng tai nạn vẫn không hề giảm và người ta đã nghĩ ra nhiều cách để nhắc nhở  người đi biển.Ngày 1 tháng Bảy sắp tới ,các con tàu trên toàn thế giới trong đó có cả các con tàu treo cờ Việt Nam phải trang bị một cái còi trên buồng lái .Nếu anh thủy thủ trực ca không thường xuyên “chăm sóc” tới nó tức là còn tỉnh táo chăm sóc tới tất cả các thiết bị dẫn đường  trong buồng lái thì cái còi này sẽ tự động rú lên nhắc nhở mà nếu nhắc nhở không được ,nó sẽ rú vang lên báo động cho toàn con tàu được biết .Thêm một thiết bị nhắc nhở,cũng tốt thôi ,nhưng nhiều người cho rằng thiết bị này mang tính cực đoan ,nhiều khi  lại phản tác dụng .Liệu người đi biển có hài lòng không khi luôn luôn có kẻ “rình mò “ theo dõi mình mà thay vì động viên ,nhắc nhở mình với bao gương sáng hy sinh tận tụy trong số hơn một triệu con người đang ngày đêm ngược xuôi trên khắp các đại dương .Hình ảnh thuyền trưởng Smith tận tụy,anh điện báo viên Philip còn đánh tín hiệu Morse tới giây phút cuối cùng trên con tàu Titanic là những bài học sinh động nhất .Có như vậy thì những cái chết của Titanic,Doria Andrea,của Vinalines Queen,Vân Đồn,Phú Xuân …mới không uổng  phí !