Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2018

Tôn Ba , Tổng Giám đốc CSIC bị bắt


Tôn Ba(Sun Bo 孙波) sinh năm 1961 . Tốt nghiệp kỹ sư thiết kế và đóng tàu Học viện Đại Liên vào tháng 8/1982 . Tháng 7 năm 2007 , ông nhận bằng tiến sĩ về kết cấu tàu tại Đại học Công nghệ Đại Liên . Trước đó, ông đã là thạc sĩ , kỹ sư trưởng (cấp kỹ sư nghiên cứu) . Tại Tập đoàn CSIC (China Shipbuilding IndustryCorporation  中国船舶重工集) , là một trong hai tạp đoàn đóng tàu của Trung Quốc, mà chúng ta thường chỉ liên hệ với tập đoàn kia là CSSC ,  ông là Tổng Giám đốc, Phó bí thư Đảng .
Ngày 17/12/2018   Ủy ban kiểm tra kỷ luật trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tuyên bố   Tôn Ba  đã lạm dụng quyền lực của mình tại  CSIC để hưởng lợi về tài chính và nhận hối lộ. Quá trình công tác của Tôn Ba như sau : Tháng 8/1982 , tốt nghiệp thiết kế và chế tạo tàu tại Đại Liên, Tôn Ba về Xưởng Tân Đại Liên (大连造船新厂) làm việc tại Phòng Kỹ thuật  trải qua các chức vụ : Phó Phòng KT, Trưởng Phòng Kinh doanh, Phó Tổng Công Trình sư, Phó Tổng Giám đốc , Tổng Giám đốc . Tại Tổng co6mg ty Đại Liên , làm Phó Tổng giám đốc rồi lên làm Tổng Giám đốc CSIC
Tháng 12/2009
04/2012 –Phó Tổng Tập đoàn CSIC
03/2015 Tổng Giám Đốc, Phó Bí thư CSIC
Đã có nhiều thành tích đượckhen thưởng như :
1-“Tàu dầu thô 15 vạn tấn cỡ Suezmax” trị gía



1,56 triệu USD được giải nhì về công nghệ quốc gia
2- Tàu 52 nghìn tấn có miệng hầm rộng  , trị giá 2,9 triệu USD
3- “Chương trình tính hoàn công tàu dầu “ , giúp cho nhà máy tiết kiệm 5 triệu tệ mỗi năm và làm cho xưởng đạt trình độ quốc tế
4-“Hệ thông  thiết kế sơ bộ tàu” , áp dụng cho trên 30 tàu , tiế kiệm mỗi năm trên 1 triệu tệ .
Tác giả của trên 10 báo cáo kỹ thuật như “ Bàn luận về biến dạng của tàu dầu cỡ lớn” , “Phạn tích kết cấu tàu dầu cỡ lớn …” trình bày tại nhiều hội nghị trong và ngoài nước 

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

Nhật ký đi Kuala Lumpur dự hội thảo của UniKL

Ngày 21/10/2018 , bay giá rẻ Vietjet cùng Bùi Ngọc Thuận
Ngày 22/10/2018 , hội nghị khai mạc tại khách sạn Premiera
Ngày 23/10/2018 , đi thăm xưởng đóng tàu Destini
Ngày 24/10/2018 ,bay về

Những chuyện lặt vặt  :
Chuyện ăn uống .
Ngày 21 Ăn tại sân bay , Bình và Thuận



Uống tại sân bay 
Ăn tối 21 với cả Quân
Ngày 22 , ăn sáng tại khách sạn Premiera
Ăn tối

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2018

Nhật ký hành trình Mỹ du thang 09 năm 2018

Khởi hành từ Sài Gòn lúc 10 giờ đem 23'08 cho chuyến bay Eva . Tơi Đài Bắc lúc 6 giờ sáng.

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018

Lý thuyết tàu thuyền dùng cho dân tộc học hàng hải

Để tham khảo , chúng ta xem clip sau đây trình bày bài học về lý thuyết tàu đầu tiên cho sinh viên khoa đóng tàu . Chúng ta chỉ xem để tham khảo

Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2018

Thảo luận với Phạm Hoàng Quân

Bài Văn hóa biển qua thuyền cổ đăng trên TTCT ngày 26/01/2012

TTCT - Tồn tại trong bảy thế kỷ, những sử liệu hiếm hoi cho thấy người dân nước ta, trong thời đại vương quốc Phù Nam, đã sử dụng thuyền bè, thuyền chèo và loại thuyền ưu việt hàng đầu đương thời là thuyền buồm.

Họ đi trước và trước rất sớm so với các nước trong khu vực Đông Nam Á và Trung Hoa trong tiến trình văn minh dựa trên sự phân kỳ lịch sử lấy công cụ giao thông làm tiêu chuẩn.
sZKxAnQZ.jpg
Tạo thuyền theo dáng cá với hai con mắt ở mũi thuyền từ thời Phù Nam vẫn còn thấy ở ghe thuyền cư dân ven biển ngày nay - Ảnh: H.T.V.
Vương quốc Phù Nam tồn tại từ thế kỷ 1 đến giữa thế kỷ 7 trên địa bàn gồm cả miền tây nam nước ta hiện nay và rộng hơn. Trước khi nhà khảo cổ L.Malleret phát hiện nền văn hóa Óc Eo (1944), nhiều học giả người Pháp như E.Aymonier, P.Pelliot, G.Coedès… đã nghiên cứu và phác thảo mô hình lịch sử Phù Nam khá hoàn chỉnh. Theo đó, người ta biết được một vương quốc Phù Nam trong không gian văn hóa Ấn Độ, hoạt động mạnh trên vùng biển Đông Nam Á, quan hệ hải thương đến tận La Mã.
Với vị trí ở vào khoảng giữa của tuyến đường biển từ Ấn Độ đến Trung Hoa, Phù Nam trở thành nơi trung chuyển/giao lưu hàng hóa và văn hóa trong khu vực. Cũng từ nơi này, người Trung Hoa biết đến những cường quốc trên biển và những xứ sở văn minh khác.
Những cuộc khai quật khảo cổ sau Óc Eo ngày càng mở rộng với nhiều địa điểm trên khắp đồng bằng sông Cửu Long đã củng cố và định hình cho lịch sử và văn minh Phù Nam. Nhiều hiện vật có độ tuổi trong khoảng thế kỷ 3-5 đã phản ánh trình độ kỹ thuật công nghệ của người Phù Nam khá cao.
Kỹ thuật đóng thuyền đáng nể
Dùng trúc một lóng làm thuyền
Phương tiện giao thông trên nước sơ khởi là chiếc bè, khi các mô hình thuyền chèo và thuyền buồm đạt đến độ hoàn hảo thì chiếc bè vẫn tồn tại trong địa hình/ môi trường tương thích. Chiếc bè trong sinh hoạt của một bộ phận cư dân sông nước Phù Nam là điều quen thuộc, nhưng một câu trong sách Hình dạng cây cỏ phương Nam của người thời Tấn (265-419) là Kê Hàm có thể đem đến sự ngạc nhiên.
Kê Hàm viết: “Ở Phù Nam có loại trúc vân khâu một lóng làm được thuyền” [Vân khâu trúc nhất tiết vi thuyền, xuất Phù Nam]. Hiện chưa biết tên gọi bản địa của loại “trúc vân khâu” này, cũng không biết nó còn hay đã tuyệt chủng, nhưng trúc một lóng mà làm được thuyền bè thì dữ dằn quá cỡ.
Trong số hiện vật khai quật ở di tích Nền Chùa (Tàkev) Kiên Giang, miếng đồng khắc họa hình con thuyền đáng phải lưu ý. Nét khắc họa mẫu thuyền buồm này khá độc đáo, kết cấu khung vững chắc, dáng mạnh. Khảo tả về hình thuyền này, các nhà khảo cổ cho rằng là loại thuyền một cột buồm, tuy nhiên cũng có thể phỏng định đây là thuyền ba cột buồm.
Trên đại thể, mẫu thuyền này khá giống thuyền buồm chữ nhật ngang của thương nhân La Mã sử dụng từ trước Công nguyên, và cũng giống thuyền buồm chữ nhật đứng mà cướp biển Địa Trung Hải sử dụng trong khoảng thế kỷ 9-13. Phù Nam với thương cảng Óc Eo là nơi giao lưu hàng hóa nhiều vùng nên đối với miếng đồng khắc hình thuyền nói trên có thể phản ánh mẫu thuyền bản địa.
Thuyền buồm là phương tiện hàng hải ưu việt bậc nhất thời ấy, người Trung Hoa đến khoảng thế kỷ 8 (Đường) mới thiết kế được thuyền buồm đi biển. Các loại cổ văn tự (đại triện, tiểu triện, kim văn) từ đời Tần trở về trước không có chữ Phàm [buồm], quyển từ điển đầu tiên Thuyết văn giải tự (121, Đông Hán) cũng chưa có chữ Phàm. Có lẽ người Trung Hoa chế ra chữ Phàm theo nhu cầu chuyển tải ngôn ngữ sau khi trông thấy thuyền buồm từ phương Nam đến.
Vào thời Tam quốc (thế kỷ 3), ngoài ghi chép về Phù Nam của sứ giả Khang Thái và Chu Ứng còn có ghi chép của Vạn Chấn. Trong Những vật kỳ lạ ở Nam Châu do Thái Bình ngự lãm dẫn (983), Vạn Chấn viết: “Người ở vùng biển Tây Nam gọi thuyền là bạc [thuyền lớn], loại lớn dài hơn 20 trượng, độ cao trên mặt nước 2-3 trượng, nhìn xa như tòa lầu, chở sáu, bảy trăm người, hàng hóa cả vạn hộc”.
Vạn Chấn cũng mô tả khá kỹ về loại thuyền có bốn cột buồm với những cánh buồm hình thoi được thiết kế không thẳng hàng nhằm lợi dụng hết sức đẩy của gió. Thuyền này dài hơn 40m, tải trọng tính chung người và hàng hóa khoảng trên dưới 400 tấn (một trượng thời Tam quốc tương đương 2,37m, một hộc tương đương 35kg). Đoạn văn này Vạn Chấn viết về các nước ở vùng biển phía tây nam mà chủ đạo là về Phù Nam, một vương quốc nổi bật đang giữ vai trò tông chủ (nước có nhiều thuộc quốc thần phục) trong khu vực…
Trong Truyện Phù Nam, Khang Thái lại viết về loại thuyền chèo cũng khá lớn, được sách Thái Bình ngự lãm chép lại: “Nước Phù Nam đốn cây làm thuyền, dài 12 tầm, rộng 6 thước, đầu đuôi giống như cá, những nơi nhô ra dùng lá sắt bao bọc trang trí. Thuyền lớn chở trăm người, người điều khiển cầm mái chèo dài hoặc mái chèo ngắn hoặc sào, từ đầu thuyền đến cuối thuyền bố trí 50 người hoặc 42 người, tùy theo thuyền lớn nhỏ. Người đứng cầm mái chèo dài, người ngồi cầm mái chèo ngắn, gặp chỗ nước cạn thì dùng sào, các tay chèo cầm lên, tiếng khua nhịp nhàng như một”.
P.Pelliot đã từng khảo chứng đoạn văn này và có lời chú về nó rằng “8 thước = 1 tầm , dài 12 tầm tức 96 thước. Đại khái, thước thời Ngô tương đương thước thời Hán, tức bằng từ 23-25cm. Như vậy người Phù Nam dùng thuyền chèo có chiều dài từ 22-24m”.
Ghi chép này của Khang Thái cũng được sử nhà Nam Tề (479-502) trích dẫn: “Thuyền của người Phù Nam dài 8-9 trượng, chỗ rộng nhất 7-8 thước, đầu đuôi giống như cá”. Theo cách chép của sử Nam Tề thì thuyền này có chiều dài từ 20-22m, nơi rộng nhất khoảng 1,75-2m.
Tổng hợp hai cách trích lục đoạn văn của Khang Thái mô tả thuyền chèo Phù Nam vào thế kỷ 3 cho thấy kỹ thuật đóng thuyền khá cao, có chi tiết cho thấy việc dùng lá sắt để ràng bọc những tụ điểm dễ bung rời. Điểm này, ngoài thông tin về cách xử lý kết cấu thuyền gỗ nhằm vào độ bền vững còn nói đến kỹ thuật luyện kim; cự ly gần 1m cho các tay chèo là khá hợp lý, lại thiết kế hai loại mái chèo dài và ngắn, phân bố tay chèo cao thấp, tận dụng không gian lòng thuyền.
Tạo thuyền theo dáng cá là điểm rất đáng chú ý, mô phỏng này có thể xuất phát từ tâm thức hướng đến tốc độ và sự an toàn dựa trên một thực thể sống nhanh nhẹn và tự nhiên trong môi trường nước. Thân thuyền giống hình dạng một con cá lớn có hai mắt, ngày nay vẫn có thể thấy trên các loại ghe thuyền của cư dân ven biển từ suốt dãy bờ biển miền Trung cho đến khắp miền Nam nước ta.
Thương hải sầm uất
Sử nhà Lương (502-557) chép về Phù Nam khá kỹ, trong có đoạn “[Vua Phù Nam là] Phạm Man mạnh mẽ và mưu lược, thường đem quân đi đánh các nước bên cạnh khiến các nước này phải thần phục, tự xưng là Phù Nam đại vương. Lại đóng thuyền lớn đưa quân đi khắp cùng Trướng Hải, đánh các xứ Khuất Đô Côn, Cửu Trĩ, Điển Tôn, cộng hơn 10 nước, mở đất đai năm sáu ngàn dặm. Sau đánh nước Kim Lân, Man mắc bệnh giữa chừng, sai con là Kim Sanh thay”.
Trích đoạn này cho thấy một phần nguyên nhân và mục đích của vấn đề xuất hiện thuyền cỡ lớn ở Phù Nam… Phạm Man đem quân thuyền đi khắp cùng Trướng Hải, vậy là đi bao xa? Ông Hứa Vân Tiều - một chuyên gia cổ sử Đông Nam Á, người sáng lập Nam Dương Học Báo (Singapore) - dựa vào trứ tác của Ya’Kubi (người Arabia hồi thế kỷ 9) cho biết từ xưa người Arabia gọi Trướng Hải là Cankhay, và mô tả hải trình từ La Mã đến Trung Hoa phải qua bảy biển lớn, Cankhay là biển cuối cùng.
Nói như vậy thì Cankhay gồm trọn vùng biển Đông Nam Á và biển Đông Việt Nam ngày nay. Các địa danh như Khuất Đô Côn, ông Hứa cho ứng với Kuala (phiên âm từ tiếng Java) - một cảng biển trên bán đảo Mã Lai; Cửu Trĩ - ứng với Coli (Kuantan) trên bán đảo Mã Lai; Điển Tôn - ứng với vùng Tenasserim (nam Myanmar) tiếp nối dãy đất Kra (bắc bán đảo Mã Lai)…
Các địa danh này với phạm vi đất đai hơn ba ngàn cây số cho thấy Phạm Man như là một hiện tượng khá sớm đã chủ trương dùng hải quân để kiểm soát vùng biển và khai thác các thuộc địa quanh vùng Đông Nam Á…
Các hoạt động thương mại và ngoại giao thông qua đường biển từ vùng đất phía nam nước ta theo hướng tây đến Thiên Trúc (Ấn Độ) hoặc theo hướng đông bắc đến Trung Hoa cũng được nói đến trong những giai đoạn tiếp theo, nhất là vào đời vua Jayavarman (khoảng 470-514), hải cảng Óc Eo thuyền bè tấp nập với hàng hóa đủ loại, từ nhu yếu phẩm đến các loại xa xỉ vàng bạc, ngọc thạch, pha lê từ bốn phương tụ tán.
“Thời đại Phù Nam” như cách gọi của Cambridge trong Lịch sử Đông Nam Á để nói về một vương quốc thống trị biển cả đã qua đi, hay nền “văn hóa Óc Eo” trăm ngàn hiện vật mà ngày nay ta còn thấy, cho thấy địa vị và tầm quan trọng của đại dương và khả năng chế ngự đại dương của người nước ta. Đó cũng là những minh chứng có từ rất sớm cho truyền thống về một nền văn hóa biển vẫn âm thầm tồn tại.
BÀN LUẬN 
1/ "Thuyền buồm là phương tiện hàng hải ưu việt bậc nhất thời ấy, người Trung Hoa đến khoảng thế kỷ 8 (Đường) mới thiết kế được thuyền buồm đi biển" - Không đúng ! "南州異物志" (Nán zhōu yìwù zhì -Nam Châu dị vật chí " của 萬震 Vạn Chấn - thời Hán là tác phẩm văn học đầu tiên của TQ đã nói về buồm . 
2/Di chỉ Nền Chùa thuộc xã Tân Hội, huyện Tân Hiệp: phát hiện di tích cư trú (nhiều cột gỗ, sàn gỗ, đồ gốm, lớp tham tro, trái cây cổ…), di tích kiến trúc (nền móng công trình bằng đá, dài 30m, rộng 29m), di tích mộ táng và nhiều hiện vật mộ táng (than xương, mảnh gốm, đá quý, vàng lá có chạm vạch hình, đặc biệt là hạt lúa cổ), di tích đường nước cổ. Tại Xẻo Lúa và Xẻo Lá (xã Động Thạnh, huyện An Biên), tìm thấy thuyền độc mộc dài 6,34 mét, rộng 1,20 mét và sàn gỗ mỗi cạnh rộng 2 mét. Tại ngọn rạch Tuần Thơm (xã Hòa Tiến, huyện Vĩnh Thuận), tìm thấy thuyền dài 13,5 mét, rộng 6 mét, bằng gỗ ghép, kết bằng dây mây.
3/Mái chèo dài (oar/aviron/Весло́/jiǎng/tưởng) , mái chèo ngắn, dầm chèo (paddle/pagaie/ ); chèo nụ (scull/橹棹lǔzhao/lỗ trạo)
4/Phù Nam  扶南 (Funan)  


Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2018

Mẫu hạm 001A Trung Quốc


Nhật báo South China Morning Post của Hong Kong ngày 11-12 dẫn nguồn tin từ các trang web quân sự Trung Quốc cho hay chiếc hàng không mẫu hạm tự đóng đầu tiên của Trung Quốc Type 001A dự kiến sẽ bắt đầu chuỗi thử nghiệm trên biển xanh trong nay mai.
Ngay từ tháng 11 vừa qua, tàu sân bay Type 001A đã bắt đầu loạt thử nghiệm sơ bộ ở cảng Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh, Đông Bắc Trung Quốc sau khi được hạ thủy hôm 26-4.

Về cơ bản, tàu sân bay này có thiết kế tương tự tàu sân bay Liêu Ninh. Tiền thân của tàu sân bay Liêu Ninh là tuần dương mẫu hạm Varyag được Liên Xô khởi công đóng từ năm 1985. Sau khi Liên Xô sụp đổ, nó thuộc sở hữu của Ukraine.
Chiếc tàu sân bay lớp Đô đốc Kuznetsov chưa được hoàn thiện này sau đó đã được Trung Quốc mua lại từ Ukraine vào năm 1998 và tân trang thành tàu sân bay Liêu Ninh.
Tàu sân bay tự đóng đầu tiên của Trung Quốc hiện được xem là một biến thể tiên tiến hơn dựa trên các tàu lớp Đô đốc Kuznetsov. Điều này đồng nghĩa với việc hai tàu sân bay Type 001A và Liêu Ninh của Trung Quốc đều có thiết kế bề ngoài tương tự nhau.
Tuy nhiên, giới chuyên gia hải quân đánh giá dàn kỹ sư cùng các nhà thiết kế đã nghiên cứu những công nghệ quân sự tiên tiến nhất cũa Mỹ cũng như của Liên Xô để tích hợp vào chiếc hàng không mẫu hạm mới này.
Xét về điểm chung, cả hai tàu sân bay đều có kích thước hạng trung với lượng choán nước khoảng từ 60.000-65.000 tấn. Tàu Liêu Ninh và 001A đều sử dụng hệ thống phóng máy bay truyền thống. Đồng thời, cả hai tàu sân bay đều có đường băng ngắn với thiết kế nhảy cầu.

Tuy nhiên, xét về điểm khác biệt, Type 001A lại được thiết kế để hoạt động trong vai trò chiến lược tương tự các tàu sân bay của Mỹ.
Khi hoạt động trên biển xanh, hàng không mẫu hạm này sẽ được hộ tống bởi các khinh hạm, khu trục hạm cùng nhiều tàu chiến khác. Một nhóm tác chiến tàu sân bay như vậy sẽ có khả năng theo dõi và tấn công các mục tiêu trên bộ, trên biển và trên không.
Trong khi đó, các tàu lớp Đô đốc Kuznetsov nguyên bản được thiết kế là một "tuần dương hạm chở máy bay hạng nặng", được trang bị nhiều hỏa lực so với các tàu sân bay, gồm hệ thống tên lửa hành trình diệt hạm và đất đối không uy lực.
Hơn nữa, các tàu lớp Đô đốc Kuznetsov hoạt động mà không có sự hộ tống, đồng thời có thể yểm trợ các tàu chiến khác.
Trong khi đường băng kiểu nhảy cầu trên tàu sân bay 001A có phần mũi dốc lên 12 độ thì của tàu sân bay Liêu Ninh là 14 độ.
Báo South China Morning Post cuối tháng trước còn cho biết các nhà khoa học Trung Quốc đang thử nghiệm loại "máy cắt thủy mẫu" (máy cắt sứa) để giảm nguy cơ các hệ thống vận hành bên trong tàu sân bay dừng hoạt động khi loài sứa biển dính vào trong các bộ phận của tàu.
Với hệ thống lưỡi dao bén ngót bằng thép đặt ở giữa, hệ thống này sẽ được một tàu lai dắt di chuyển với tốc độ cao sử dụng để dọn đường cho tàu sân bay Trung Quốc hoạt động mượt mà hơn. Hồi năm 2006, tàu sân bay USS Ronald Reagan của Mỹ đã phải tạm ngừng hoạt động sau khi di chuyển qua một đàn sứa khổng lồ ở vùng biển ngoài khơi cảng Brisbane của Úc.
Về hệ thống vũ khí, chuyên gia Lý Khiết cho biết các radar S-band với 4 ăng ten lớn sẽ được lắp trên đỉnh của tháp đảo. Đây là hệ thống radar tiên tiến nhất của Trung Quốc với khả năng quét tìm kiếm 360 độ để phát hiện các mục tiêu trên biển và trên không.
Bốn hệ thống tên lửa phòng không tầm ngắn HQ-10 với 24 ống phóng cũng sẽ được triển khai trên tàu sân bay mới của Trung Quốc. Hệ thống vũ khí này ngoài ra cũng được dùng bởi các khu trục hạm Type 052D và các khinh hạm Type 056 tối tân của hải quân Trung Quốc.
Ông Lý Khiết - chuyên gia về hải quân tại Bắc Kinh, cho biết phần mũi dốc lên 12 độ của Type 001A sẽ giúp các chiến đấu cơ giảm được đoạn đường cất cánh, tiết kiệm năng lượng, tăng trọng tải vũ khí đồng thời giúp làm dài cấu trúc con tàu.
Đài truyền hình trung ương Trung Quốc CCTV cho biết khu vực tháp đảo (trung tâm điều khiển tàu) trên boong tàu sân bay 001A có nhiều hơn tàu sân bay Liêu Ninh một tầng.
Tuy nhiên, ông Lí cho biết diện tích boong tàu bị chiếm bởi phần tháp đảo đã giảm khoảng 10%, giúp cho phép tàu sân bay Type 001A có thể chứa được nhiều hơn trực thăng cùng các máy bay cảnh báo sớm.
Chuyên gia Lí Khiết nhấn mạnh 4 máy phóng vũ khí đã được loại bỏ khỏi khu vực boong phía sau. Điều này đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều không gian hơn cho các máy bay.
Theo Chuẩn Đô đốc hải quân Trung Quốc Doãn Trác, chiếc hàng không mẫu hạm Type 001A có sức chứa tối đa 35 chiến đấu cơ J-15. Trong khi đó, con số này của tàu sân bay Liêu Ninh là 24.
Hiện chỉ có tàu sân bay duy nhất là Liêu Ninh hoạt động trong hải quân Trung Quốc. Tàu này đã được biên chế từ năm 2012. Các chuyên gia hải quân đánh giá hàng không mẫu hạm Type 001A có thể sẽ được đưa vào biên chế vào năm 2020, một số nguồn tin khác cho biết có thể sẽ sớm hơn.

Thứ Năm, 22 tháng 2, 2018

Thuyền nhân qua tiếng Nga

Khi tra cứu chữ "люди в лодках" qua wikipedia tiếng Nga, ta sẽ thấy họ giải thích ngay, chữ này từ "thuyền nhân" Việt Nam . Và ta có thể nghe bài hát thuyền nhân bằng tiếng Nga, qua Youtube. Nội dung bài hát bằng tiếng Nga
 Долго я шел берегом реки,
Я шел, судьбу свою кляня.
И все надежды были далеки,
И, все же, утром к морю вышел я.

И я заметил, что мне легко,
И мир совсем не так уж плох.
И наша лодка может плыть легко
Мимо дивных берегов и островов.

Люди в лодках, вас несет река,
Разносит, сносит день за днем.
Ваших лодок много, и река велика,
И все вы позабыли где ваш дом.

И все же я заметил, что мне легко,
И мир совсем не так уж плох,
И наша лодка может плыть легко
Мимо дивных берегов и островов.


 

Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018

TƯỞNG NHỚ THÀY NGUYỄN VĂN QUẾ


Ngày ấy trên một vùng ngã ba sông
Trần Trọng Trung

Hàng năm cứ đến ngày 8 tháng 3, chúng tôi - những chiến sỹ Thuỷ quân sông Lô năm xưa - lại họp mặt kỷ niệm ngày Bộ Quốc Phòng ra quyết định thành lập Ban Nghiên cứu Thủy quân.
Mặc dù đã trên dưới nấc thang “thất thập cổ lai hy” (có người như anh Ngô Hương đã ngoại bát tuần), nhưng xem ra số đông vẫn giữ được phong thái thời lính trẻ, nhất là mấy nhân vật đã vang bóng nghịch ngợm một thời, như Lê Q uang Loát, Đỗ Sâm, Nguyễn Thọ Sơn... Cứ mỗi lần họp mặt là một lần cùng nhau ôn lại những giai thoại về những chàng “lính thuỷ nước ngọt” 50 năm trước, cùng nhau hát lại những bài hát của thời trai trẻ và trao đổi tâm tình về cuộc sống đời thường của tuổi già bên cạnh con cháu nội ngoại.
Thấm thoắt thế mà đã nửa thế kỷ!
Nhớ lại hồi đó, khoảng giữa năm 1950, vừa học xong khoá 2 trường Nguyễn ái Quốc trở về công tác ở Bộ Tổng tham mưu không lâu, tôi được điều làm Chính trị viên Ban Nghiên cứu Thuỷ quân và lớp Thuỷ quân. Khi trao nhiệm vụ, trả lời điều băn khoăn thắc mắc của tôi, anh Thái nói:
- Cái hồi Bác Hồ trao nhiệm vụ thành lập Bộ Tổng tham mưu, trong cán bộ ta đã ai biết gì về công tác Tham mưu đâu...
Rồi anh động viên tôi hãy đem cái vốn kinh nghiệm làm chính trị viên khoá 2 lớp sỹ quan tham mưu vận dụng vào điều kiện mới. Còn về chuyên môn hàng hải, tìm hiểu học hỏi anh em thuỷ quân cũ đang làm công tác giảng dạy dưới đó...
Từ chợ Chu, tôi qua ngã ba Phú Minh, vượt đèo Khế sang Bình Ca rồi theo đường số 2 xuống Đoan Hùng. Huyện lỵ đã sơ tán hết, vắng vẻ, chỉ còn lèo tèo vài cái quán nép mình dưới mấy cây to ven đường. Cuộc hành binh Pô-mô-nơ mùa hè năm trước của quân Pháp khiến cho vùng ngã ba Đoan Hùng chưa lấy lại cảnh nhộn nhịp của một điểm nút giao thông từ đồng bằng trung du lên chiến khu.
Đang hỏi thăm đường đến chợ Giàn, xã Hùng Quan thì gặp một cán bộ cũng vừa vào quán nghỉ chân. Nhìn nhau, hai chúng tôi cùng ngờ ngợ như đã từng gặp nhau ở đâu. Cuối cùng, rồi cũng nhận ra, con người cao cao đó chính là một cán bộ đã từng công tác ở Hải đoàn bộ, cùng trong khu nhà 18 Nguyễn Du, trụ sở của Bộ Tổng tham mưu hồi trước kháng chiến toàn quốc. Nhận ra nhau rồi, được biết anh đang công tác ở Ban Nghiên cứu Thuỷ quân. “May sao, may khéo là may”, tôi được anh Quế dẫn đường về cơ quan.
Dọc đường tôi tranh thủ tìm hiểu tình hình của Ban và của lớp thuỷ quân. Khoá 1 vừa kết thúc. Tháng 6 vừa qua, gần 100 học viên đã lên đường sang nước bạn để bổ túc thêm vì có thực tế môi trường ven biển và hải đảo. Một số cán bộ đang đi chiêu sinh, chuẩn bị cho khoá tiếp theo. Khác với khoá 1, học sinh khoá này tuyệt đại đa số là học sinh trung học vừa nhập ngũ. Cán bộ phụ trách hiện nay là hai anh Nguyễn Văn Khương và Trần Đình Vọng, trưởng và phó ban. Anh Nguyễn Việt, chính trị viên, đã lên đường sang Trung Quốc cùng với anh em học viên khoá 1. Tôi thầm nghĩ: như vậy là về mặt công tác Đảng và công tác chính trị, tôi sẽ nhận nhiệm vụ mà không có sự bàn giao giữa Cấp uỷ khoá 1 và Ban cán sự Đảng khoá 2.
Anh Quế dẫn tôi đến căn nhà tranh ở sườn đồi phía sau làng Cỏ. Ban Chỉ huy không có chỗ riêng mà ở chung với đồng bào địa phương. Tuy không quen, nhưng đã từng gặp trong một vài hội nghị ở Bộ Tổng tham mưu nên anh Khương, anh Vọng và tôi nhận ra nhau ngay. Sau một buổi trao đổi sơ bộ trong nội bộ Ban phụ trách và gặp gỡ thăm hỏi anh em giáo viên, mấy hôm sau chúng tôi bàn việc chuẩn bị khai giảng khoá học sắp tới.
Đội ngũ giáo viên vẫn chia thành ba ban chuyên môn: Hàng hải, Thông tin, Điện cơ, do anh Nguyễn Văn Quế làm tổ trưởng huấn luyện. Các anh đã có kinh nghiệm khoá 1. Qua những buổi đầu tiếp xúc và được anh Khương, anh Vọng cho biết, điều đáng quý trong đội ngũ giáo viên không chỉ là kiến thức về chuyên môn mà cái chính là nhiệt tình trách nhiệm trong công tác giảng dạy. Ngay từ khoá trước, các anh đã góp phần công sức đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng ngành Thuỷ Quân từ buổi đầu trứng nước. Chính với tinh thần trách nhiệm và lòng say mê nghề nghiệp mà các anh đã tìm mọi biện pháp khắc phục khó khăn thiếu thốn để có những phương tiện huấn luyện tối thiểu trước ngày lớp học khai giảng. Đúng là các anh đã “đi từ hai bàn tay trắng” với đầy đủ nghĩa đen và nghĩa bóng của cụm từ đó. Với trí nhớ và sự hiểu biết về tầu chiến của Pháp, các anh đã làm được những mô hình (maquette) tầu tuần dương, khu trục, hàng không mẫu hạm: đã tự đóng xuồng để học sinh chèo lái; tự làm ra những phương tiện thông tin thô sơ (cờ, đèn...) để dậy cách liên lạc trên biển. Có những thứ (ví dụ như máy nổ) có thể đi nhờ sự giúp đỡ của các cơ quan bạn, cũng có những thứ đành phải giới thiệu bằng hình vẽ, như la bàn đi biển hay những phương tiện thông tin hiện đại về Hàng Hải.
Do chức năng, nhiệm vụ của mình, cho nên một trong những công việc đầu tiên của tôi khi bàn việc chuẩn bị khai giảng khoá học là nghiên cứu phương án triển khai công tác Đảng, công tác chính trị. Điều đáng quan tâm là lực lượng Đảng viên quá mỏng, cả trong đội ngũ giáo viên và học viên. Trong anh em giáo viên chỉ có một vài Đảng viên và một số trợ giáo (mới tốt nghiệp khoá trước) là trong diện cảm tình Đảng.
Khi bàn về công tác Đảng, công tác chính trị, Ban Cán sự chúng tôi chú ý nghiên cứu tìm hiểu về anh em giáo viên chuyên môn, những người đóng vai trò rất quan trọng đối với kết quả khoá học. Qua đôi lần tiếp xúc, được biết các anh đã từng trải qua cuộc sống của những chuyên viên kỹ thuật hàng hải trên các tầu biển của Pháp, đã từng đặt chân tới những thành phố cảng lớn như Mác-xây, Tu-lông, Niu-Yoóc, Hồng Kông... Mỗi khi tầu cập bến, thuỷ thủ lên bờ với bộ cánh trắng, là thẳng tắp. Có anh thuộc dòng dõi quý tộc. Có anh lấy tên Tây, lại có anh công giáo toàn tòng, còn rất tin ở đức Chúa Trời... Cách mạng Tháng Tám thành công, các anh đem kiến thức chuyên môn phục vụ hoạt động của lực lượng vũ trang trên chiến trường sông biển, từ Thuỷ đội Bạch Đằng ở Khu 5 đến vùng duyên hải Đông Bắc và cơ quan Hải đoàn bộ thuộc Bộ Tổng tham mưu từ những ngày trước kháng chiến toàn quốc. Khi Ban Nghiên cứu Thuỷ quân thành lập, các anh là những người đầu tiên đem hiểu biết truyền đạt lại cho lớp trẻ, từ khoá trước đến khoá 2 này. Ban cán sự đánh giá cao sự hiểu biết và sự đóng góp của các anh, đồng thời xác định phương hướng giúp đỡ các anh về mặt chính trị, một lĩnh vực các anh còn ít quan tâm “vì quá khô khan”.
Bên cạnh giáo viên chuyên môn là đội ngũ cán bộ làm công tác huấn luyện quân sự, cấp trung và đại đội. Các anh đều đã tốt nghiệp Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, từ khoá 2 đến khoá 5. Một số đã là Đảng viên. Từ khoá 1, không mấy ai là không biết tiếng ông Lê Trường Đa, được mệnh danh là “ông Đa đi đều bước”. Anh là một cán bộ rất thương yêu bộ đội nhưng cũng rất nghiêm khắc trong chấp hành điều lệnh. Còn cán bộ trung đội, xuất thân từ “lò luyện quân” khoá 4 ở vùng núi Guộc - Phúc Trìu, Thái Nguyên, nổi tiếng về rèn luyện quân phong quân kỷ.
Đối tượng thứ ba - được coi là trọng tâm - đó là học viên. Anh Phương và anh Hiệu đã ít nhiều có kinh nghiệm lãnh đạo anh em thanh niên học sinh trung học từ khoá trước. Hôm từ ngã ba Đoan Hùng về cơ quan, tôi đã có dịp trao đổi với anh Quế về những thanh niên mà anh đang chiêu sinh chuẩn bị cho khoá 2. Mấy ngày theo dõi anh em tề tựu tập trung về lớp, một đặc điểm rất đáng ghi nhận là, tuổi trẻ và ý thức giác ngộ chính trị đã giúp cho anh em nhanh chóng hoà quyện với nhau, đoàn kết tương thân tương ái trong công tác và trong sinh hoạt ngay từ những ngày đầu tựu trường. Hơn 100 thanh niên mới rời ghế nhà trường để “nhập ngũ vào lính thủy”, có một nét rất chung là thông minh, tháo vát, một số nổi bật là khá nghịch ngợm - nét đặc trưng của tuổi học trò. Như sau này nhiều anh em nhớ lại, không ít người đăng ký nhập ngũ với những suy nghĩ mộng mơ rất trẻ và cũng rất lãng mạn: “giầy trắng, quần áo trắng, mũ trắng có chóp bông đỏ, đứng tựa lan can tầu sạch bóng, nhìn mây, ngắm nước...”. So với cuộc sống kháng chiến hồi đó (1950-1951) ước mơ trên đây được coi là “tạch tạch xè” (tiểu tư sản). Nhưng rồi thực tế những ngày lao động xây dựng trường sở, bộ quần áo vệ quốc đoàn nhuộm bằng lá cơi, doanh trại bằng tre nứa lá, những bữa ăn không đủ no đối với cái tuổi bẻ gẫy sừng trâu và nhất là một tháng “cầy vỡ tân binh”, tất cả đã đưa những chàng trai đáng yêu ấy thích ứng với cuộc sống của người “lính thuỷ nước ngọt” ở vùng ngã ba sông Lô - sông Chảy.
Hôm lên đường đi nhận nhiệm vụ, cơ quan chính trị Bộ Tổng tham mưu trao cho tôi quyết định thành lập Ban Cán sự Đảng Ban Nghiên cứu Thuỷ quân và lớp Thuỷ quân, trực thuộc Đảng bộ Bộ Tổng tham mưu. Ban cán sự gồm có 3 người: Trần Lưu Phương và Nguyễn Khổng Hiệu (tiểu đoàn trưởng và chính trị viên tiểu đoàn học viên) và tôi (bí thư Ban Cán sự kiêm chính trị viên Ban Nghiên cứu và lớp Thuỷ quân).
Theo phương hướng chỉ đạo của trên, công tác giáo dục lãnh đạo tư tưởng trong thời kỳ này tập trung vào việc quán triệt đường lối kháng chiến của Đảng và bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân. Trước mắt đối với anh em học viên với bước vào thời quân ngũ, cần nhanh chóng tạo điều kiện cho anh em thích ứng với môi trường mới, nhất là trong thời kỳ rèn luyện tân binh, những ngày thử thách đầu tiên mà các anh sắp phải trải qua. Về lâu dài, mặc dù cuộc kháng chiến phát triển thuận lợi, nhưng khó khăn không ít. Cần giáo dục khắc phục mọi tư tưởng ngại gian khổ hy sinh, tư tưởng ỷ lại vào nước ngoài. Phương hướng phát triển Đảng nhằm vào số cán bộ sơ cấp và các trợ giáo, đặc biệt là những anh em đã trong diện cảm tình Đảng...
Sau một tháng rèn luyện tân binh, chương trình chuyên môn Hàng hải bắt đầu, xen kẽ với chương trình học tập chính trị chính khoá. Điều mà cán bộ Đảng viên quan tâm là vận dụng công tác quân sự bộ binh sao cho phù hợp yêu cầu chiến đấu trên sông biển. Ví như, bắn súng bộ binh trên tàu thuyền, ca nô, tiếp cận bờ, bám mục tiêu, triển khai đội hình chiến đấu... Bên cạnh đó là những nội dung thuần tuý Hàng hải do giáo viên chuyên môn trực tiếp huấn luyện, từ tập bơi lặn, chèo lái xuồng ca nô, đến sử dụng hải đồ, vận dụng kinh nghiệm dân gian để tìm phương hướng trên biển, sử dụng phương tiện thông tin hàng hải...
Tài liệu giáo dục chính trị cơ bản là cuốn Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng bí thư Trường Chinh, kết hợp với những buổi sinh hoạt tập trung nghe thời sự hoặc nghiên cứu một số tài liệu ngoại khoá, như Thanh niên tính, Giai cấp tính và các bài viết của các đồng chí lãnh đạo trên tờ Sự thật, Cứu quốc v.v...
Tôi còn nhớ, sau buổi giới thiệu tài liệu Thanh niên tính (xin được của anh Lý Ban nhân một buổi lên Bộ họp), tôi hỏi ý kiến một số học viên: Làm thế nào, dùng hình thức gì để cải thiện sinh hoạt văn hoá tinh thần cho phù hợp với tâm tư tình cảm của tuổi trẻ? Anh em cho biết: thỉnh thoảng, sau bữa cơm chiều (trước giờ sinh hoạt tối), nhiều anh em thường ra ngồi trên bãi cỏ bên bờ sông Chảy, với cây đàn ghi ta, cùng nhau hát và trao đổi với nhau về những vấn đề mang tính văn hoá lành mạnh. Tôi quyết định tham gia cùng anh em với hy vọng tìm thêm hình thức hoạt động công tác chính trị cho phù hợp với điều kiện lớp học.
Lúc đầu, có anh em dè dặt “vì sự có mặt của Chính trị viên”. Nhưng rồi chúng tôi nhanh chóng hoà với nhau, cùng nhau nói chuyện về thơ, về truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm... Chỉ một vài buổi đầu tiên cũng đủ nhận thấy nhiều anh em có năng khiếu văn học và hiểu biết khá sâu ngay từ những ngày ngồi trên ghế nhà trường trung học. Có anh thích đọc và nhớ khá nhiều bài thơ của Vich-to Huy-gô, trong đó có bài Sau trận đánh (Après la bataille) chan chứa tình người và đặc biệt là một bài thơ rất hợp với những suy nghĩ lãng mạn của những chàng thuỷ thủ tương lai, bài Đêm trên đại dương (Nuit sur l’océan), trong đó có câu:
“Ôi biết bao thuyền viên, thuyền trưởng
Vui ra đi những chuyến viễn dương...”
Cũng có anh thích bình những bài thơ hay nhất của Xuân Diệu, Nguyễn Bính, rồi đặt ra những câu hỏi rất khó trả lời, ví như vì sao Xuân Diệu thích Ranh-bô và Véc-len (“hai chàng thi sĩ choáng hơi men”)?.
Điều đáng trân trọng là anh em rất có ý thức, chỉ dừng lại ở mức sinh hoạt văn hoá mang tính thư giãn lành mạnh sau một ngày học tập căng thẳng. Chẳng thế mà đã không có người nào hưởng ứng ý kiến ai đó muốn bình luận về bài  thơ của Phê-lích ác-ve (1806-1850). Đây là một bài xon-nê rất nổi tiếng, đã từng được ghi trong từ điển La-rút-xơ, nhưng vì nhan đề Tình tuyệt vọng và mang nội dung uỷ mị, không phù hợp với điều kiện sinh hoạt chính trị tư tưởng trong những ngày kháng chiến gian khổ hồi đó.
Cứ như thế, nhóm anh em yêu thơ nhạc này trở thành hạt nhân văn hoá văn nghệ của lớp, một “câu lạc bộ” nhỏ, không chính thức, sinh hoạt không định kỳ, ngoài giờ. Tôi thường tranh thủ họp mặt với anh em, nhưng không được đều. Tôi gọi là “hạt nhân văn hoá văn nghệ” vì ngoài những buổi sinh hoạt nhóm nhỏ mang tính thư giãn ra, anh em còn đóng vai trò nòng cốt trong các cuộc liên hoan văn nghệ nội bộ. Cũng chính do đề nghị của anh em mà lớp học có thêm những buổi nói chuyện chung về nhiều đề tài khác nhau, từ các chiến dịch Xta-lin-grát, Béc-lin, cuộc Vạn lý trường chinh, đến các nhân vật nổi tiếng trong chiến tranh Xô - Đức như Xtalin, Giucốp v.v...
Một trong những buổi nói chuyện đáng ghi nhớ là buổi nói về chiến thắng Biên giới.
Khoảng cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1950, tôi được đi dự Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II (chiến dịch giải phóng Biên giới Đông Bắc). Sau hội nghị, cơ quan chính trị Bộ Tổng tham mưu hướng dẫn mục đích tuyên truyền về chiến thắng có tầm cỡ chiến lược quan trọng này là nhằm làm cho bộ đội và nhân dân thấy được mấy nội dung chủ yếu sau đây: 1/ Đây là chiến dịch lớn nhất của quân đội ta sau 5 năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp và đã giành thắng lợi vượt mức yêu cầu (diệt 8 tiểu đoàn tinh nhuệ của địch); 2/ Biên giới khai thông, do đó ta có điều kiện mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế, trước hết là với Liên Xô và Trung Quốc; 3/ Chiến thắng Biên giới đánh dấu một mốc chiến lược quan trọng, tạo nên một bước ngoặt của cuộc kháng chiến.
Nói chuyện với học viên, điều mà anh em thích thú nhất là những mẩu chuyện về Bác hồ đi chiến dịch, từ việc Bác theo dõi động viên bộ đội giữ vững quyết tâm khi trận đánh mở màn (diệt cứ điểm Đông Khê) gặp khó khăn phải kéo dài thời gian, đến việc Bác hoá trang đi thăm hỏi bộ đội, thương binh, dân công và gặp cả những sỹ quan tù binh Pháp; rồi chuyện địch, chuyện đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ bị chảy máu dạ dày, không chịu lui về hậu tuyến, vẫn nằm trên cáng để chỉ huy bộ đội truy kích địch: rồi những mẩu chuyện về tình cảnh hỗn loạn của hai binh đoàn địch trong quá trình bị  quân ta chia cắt  và tiêu diệt...
Cuộc nói chuyện đã thực sự đem lại cho toàn thể giáo viên và học viên một niềm phấn khởi trước chiến công to lớn của đồng đội.
Nhóm hạt nhân văn hoá văn nghệ tồn tại và phát huy tác dụng trong suốt khoá học và một điều bất ngờ đã đến với tôi, 46 năm sau. Năm 1996, một người bạn từ miền Nam ra thăm và tặng một tập thơ gồm 50 bài, do nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản. Tập thơ nhan đề Em ơi - Thời gian tác giả chính là người bạn trẻ đến thăm hôm đó - Trịnh Thế, một thành viên Lính thuỷ sông Lô năm xưa. Trong tập thơ có bài anh viết từ năm 1946, khi mới ở tuổi 16.
Xin trở lại với khoá học của chúng tôi ở vùng ngã ba sông Lô - sông Chảy.
Khoảng giữa tháng 4 năm 1951, khoá 2 vừa kết thúc thì anh em khoá 1 từ Trung Quốc về nước. Ngày 29 Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái xuống trực tiếp chỉ thị cho cán bộ phụ trách cả hai khoá chuẩn bị chuyển hướng hoạt động của Ban Nghiên cứu Thuỷ quân. Điều kiện cụ thể của cuộc kháng chiến lúc này đỏi hỏi giản chính biên chế cơ quan Bộ để tập trung cán bộ xây dựng các đại đoàn chủ lực và tăng cường cán bộ ra phía trước. Mấy trăm cán bộ của cả hai khoá thuỷ quân cũng trong diện đó. Bộ chỉ thị cho chúng tôi cùng cơ quan quân lực nghiên cứu cụ thể từng đối tượng, hoặc điều ra chiến đấu vùng duyên hải Đông Bắc (chủ yếu là anh em bộ đội và du kích vùng biển vừa tham gia lớp huấn luyện khoá 1) hoặc điều về các đại đoàn, trước hết là đại đoàn công pháo 351.
Phải thú nhận rằng việc giải thể Ban Nghiên cứu Thuỷ quân hai khoá huấn luyện là điều bất ngờ đối với chúng tôi. Anh em học viên đang nô nức chờ đợi nhiệm vụ mới, chờ đợi vận dụng những kiến thức vừa tiếp thu được về hàng hải. Vấn đề đặt ra là phải triển khai công tác tổ chức, công tác chính trị tư tưởng như thế nào mà không gây nên sự hẫng hụt trong một số người, nhất là nhưng anh em không được phân công ra chiến đấu ở Đông Bắc. Chúng tôi ghi nhớ lời dặn của anh Thái (Tổng Tham mưu trưởng) cấp uỷ, từng tổ Đảng và đảng viên phải tự xác định nhận thức và tư tưởng rằng chủ trương tạm thời giải thể lúc này là đúng, là phù hợp với yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến. Khi phổ biến nhiệm vụ cho chúng tôi, Tổng Tham mưu trưởng nhấn mạnh: chúng ta không hứa hẹn xuông, nhưng chắc chắn khi điều kiện cho phép tổ chức lực lượng Hải quân, các anh em học sinh này sẽ là những người đầu tiên được Bộ triệu tập về và sẽ trở thành “những hạt giống đỏ” của Hải quân Việt Nam sau này.
Suốt tháng 5, hàng loạt công tác được triển khai dồn dập nhằm nhanh chóng thực hiện chủ trương của Bộ: sinh hoạt chính trị, đả thông tư tưởng, phân bố cán bộ và học viên của cả hai khoá, giải quyết những vấn đề còn lại về quản lý hành chính, cơ sở vật chất...
Trong không khí khẩn trương nhộn nhịp ấy, không khỏi có những biểu hiện tâm lý nuối tiếc và tình cảm bạn bè quyến luyến trước ngày chia tay, nhất là sau khi công bố danh sách theo phân công cụ thể. Kẻ ra Đông Bắc, người xuống đại đoàn, hôm chia tay không ai dự kiến trước ngày gặp lại và -  tuy không nói ra- không ai biết trước cuộc đời binh nghiệp của mình liệu còn có dịp trở lại gắn bó với Hải Quân?
Phải hơn bốn mươi năm sau, với sự ra đời của Ban liên lạc Cựu chiến binh Thuỷ quân (BTTM), bài toán mới có lời giải trong cuộc họp mặt đầu Xuân Quý Dậu - 1993. Sau bốn mươi hai năm - một khoảng thời gian dài ngoài dự kiến - mới có dịp báo cho nhau ai còn ai mất, anh nào còn trong quân ngũ anh nào đã ra ngoài trước ngày nghỉ hưu và đặc biệt là những ai hiện còn là “hạt giống đỏ” trong quân chủng Hải quân? Được biết, ngay sau hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Bộ đã giữ lời hứa, điều động ngay một số anh em về tham gia chuẩn bị thành lập Cục Phòng thủ bờ biển. Trong đó, có nhiều anh em còn tham gia công tác trong quân chủng Hải quân cho đến ngày nghỉ hưu. Ai nấy đều vui mừng khi được tin dù xuống đơn vị chiến đấu hay về các cơ quan Bộ hoặc Liên khu, hoàn cảnh môi trường cụ thể khác nhau, kể cả trước những  thử thách ác liệt nhất, tất cả anh em đều hoàn thành nhiệm vụ, có anh ngã xuống trên chiến  trường địch hậu Đông bắc. Và một “mẫu số chung” là mỗi người chúng tôi đều rất tự hào về bản chất anh bộ đội cụ Hồ, cũng như chưa ai hề quên những kỷ niệm một thời trai trẻ của những chàng “Lính thuỷ nước ngọt” trên một vùng ngã ba sông.


Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

Đóng tàu trên bàn ăn cơm !

VIẾT DẦN Hội chợ Vietship năm nay tuy không sôi động, đông đúc như những năm trước, nhưng nếu để ý , ta sẽ thấy nhiều yếu tố mới . Đó là sự lên ngôi của các tàu thuyền nhỏ, nhỏ nhắn như với kích thước công nghiệp đóng tàu của chính chúng ta. Trong số các gian hàng , nếu các bạn chú ý, sẽ thây một gian hàng với các con tàu tí hon, những con tàu mô hình , lại có xuất xứ từ Hàn Quốc. Đó là gian của công ty Kosmodel . (www.kosmodel.com) .

Góp ý cho Bảo Tàng Quảng Ninh

ĐỂ ĐÂY VIẾT DẦN !
-Nhà nổi của ngư dân dịch là habittant flottant trong khi đó phải là paillotte (une sorte de hutte avec un toit en pailleflottant
-Thuyền thúng tiếng Pháp gọi là coracle, còn mủng, thuyền đan nhỏ là nacelle . Trong khi đó, Quảng Ninh dịch là barque !! +

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2018

Dùng thủy chuẩn đo đạc trong đóng tàu

Thủy chuẩn AC-2S


Hiện nay các nhà máy đóng tàu dùng khá nhiều các thiết bị trắc địa trong việc đo đạc các công trình như đo độ cao các phân , tổng đoạn tàu. Một thiết bị phổ biến nhất là thủy chuẩn (automatic level) . Thủy chuẩn hiện nay được chia ra làm hai loại: loại quang cơ đo đạc bằng cách đọc số trên cột mia bằng mắt, ghi chép số liệu sổ tay và tính toán trên các số liệu ghi chép được và loại điện tử  được đo đạc bằng cách đọc số trên cột mia mã vạch bằng tia hồng ngoại, hiển thị số đọc trên màn hình LCD và dữ liệu được xuất ra máy tính để xử lý.Thủy chuẩn gồm ba bộ phận chính : bộ phận ngắm, bộ phận cân bằng và bộ phận cố định . Trong bộ phận ngắm, quan trọng nhất là ống kính (như hình 1 ) Trong hình 1 các bộ phận :  1-Vật kính; 2-Hệ điều quang; 3-Dây chữ thập; 4- Thị kính; 5- Bọt thủy ; 6-Ốc cân đế máy; 7- Vít nghiêng. CC’- trục ngắm ống kính ; LL’- trục bọt thủy ; VV’-trục quay của thủy chuẩn  
Hình 1- Sơ đồ cấu tạo thủy chuẩn


Thủy chuẩn hoạt động dựa trên nguyên lý song song hình học giữa tia ngắm với mặt nước biển (mặt thủy chuẩn), nên có thể tính toán độ chênh cao giữa các điểm, vị trí trong không gian nên nói chung dùng thay cho ống thủy để xác định độ cao và vạch dấu trong đóng tàu , đặc biệt là khi làm việc trên một diện rộng, có thể kết hợp với kinh vĩ điện tử để kiểm tra tuyến hình tàu. Hiện nay, trên thị trường có thủy chuẩn của các hãng Trimble, Topcon, Leica, Kolida, Pentax, Nikon, Nam Phương (Trung Quốc) . Trong ví dụ sau đây, chúng ta xem xét thủy chuẩn AC-2S do Nikon chế tạo, với các bộ phận sau đây : 1-nút điều ảnh; 2-mốc ngắm sơ bộ; 3-nút điều chỉnh dây chữ thập; 4-vòng điều chỉnh dây chữ thập; 5-thị kính; 6-vòng xoay ngang và chỉ thị góc; 7-đường đọc trị số góc; 8-ốc chỉnh cân bằng; 9- bệ máy; 10-ốc chỉnh bọt thủy tròn; 11-nút xoay ngang; 12- bọt thủy tròn; 13-gương xem bọt thủy; 14-vật kính
Trình tự sử dụng như sau :
1-Dựng máy : 
-Dựng chân ba theo độ cao thích hợp với chiều cao của bạn, sao cho chân ba vững vàng , mặt chân ba vừa với độ cao cần đo. 
-Gắn máy vào chân ba. 
-Theo bọt thủy tròn, cân bằng máy .
-Xoay vòng dấu chữ thập, để chỉnh chữ thập  
2- Chỉnh ngắm 
-
Hình 2-Đo cao

Thủy chuẩn laser Fukuda EK-453DP có hình như sau:

Thủy chuẩn laser nhãn hiệu Fukuda EK-453DP , có thể xem clip video như sau ;
và tiếp theo là một clip dùng nó trong xây dựng :
Một ví dụ nữa :