Thứ Năm, 19 tháng 2, 2015

Làm mô hình tàu buồm Iskra

Mô hình Iskra làm bằng bìa
Hiện nay ,Hải quân NDVN đang thực tập trên tàu buồm huấn luyện có tên là Iskra tức là Tia Lửa của Ba Lan và sẽ nhận một chiếc tàu huấn luyện như thế,kích thước lớn hơn một chút ,cùng kiểu buồm như Iskra .Để giúp các bạn yêu thích biển cả,yêu thích hải quân ,chúng tôi xin giới thiệu tài liệu của Ba Lan hướng dẫn làm mô hình chiếc tàu buồm này .Các bạn có thể tải toàn bộ tài liệu tại đây .
Để hiểu rõ tàu buồm này  các bạn nên đọc bài giới thiệu về tàu buồm này tại địa chỉ này,mà chúng tôi đã giới thiệu khá tỉ mỉ .Kiểu mô hình này rất đơn giản,chỉ việc cắt ra theo đúng tỉ lệ,rồi dán lại ,một kiểu mô hình dùng cho học sinh phổ thông.Với con nhà kỹ thuật,các bạn nên vẽ 3D lại và làm mô hình như chúng ta thường làm tại các khóa chuyên đề . 
Thông số kỹ thuật chính :
Chiều dài toàn bộ kẻ cả xà mũi : 49,0 mét
Chiều dài giữa hai đường thẳng góc :36,0 mét
Chiều rộng tại sườn giữa : 8,0 mét
Mớn nước :3,5 mét
Chiều cao mạn tới boong trên : 5,5 mét
Diện tích buồm : 958 mét vuông
Công suất máy chính : 310 CV
Tốc độ : 9 hỉa lý/giờ
Thuyền viên :20 người
Học viên : 36 +9  
Một số hình ảnh 












  

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2015

TRÊN BIỂN CHÚNG TA SẮP XUẤT HIỆN NHỮNG CÁNH BUỒM TRẮNG HUẤN LUYỆN NGƯỜI ĐI BIỂN !

Nguồn tin gốc Ba Lan tại đây Bài này đăng trên Đất Việt tại đây


và tiếp tục tại đây 
Vừa qua ,trên các phương tiện truyền thông Ba Lan như Nhật báo Baltic (Dziennik Bałtycki),Cổng thông tin hàng hải (Portal morski) …đều đăng một tin vui về việc huấn luyện đào tạo Hải quân Việt Nam: ngày 02 /07/2014 tại Xưởng đóng tàu mang tên Conrad thuộc MarPro (Marine Projects) ở Gdansk đã làm lễ đặt ky đóng chiếc tàu buồm huấn luyện cho Hải quân Việt Nam với người thiết kế là Công ty Choren Design & Consulting ,một công ty thiết kế thành lập năm 1989 với người sáng lập là kỹ sư Zygmunt Choren ,người được coi là “Cha đẻ Tàu buồm” của Ba Lan  .Chúng ta thử tìm hiểu  về sự kiện này như thế nào ?

Tàu buồm Iskra căng hết các cánh buồm trong cuộc thi "Cutty Sark Tall Ship Race"

Tại sao lại phải dùng tàu buồm để huấn luyện ?
Là một dân tộc gắn liền với biển cả,dân ta được lịch sử hàng hải thế giới cho là một trong những dân tộc đã phát minh ra những cánh buồm .Trên biển cả ,chúng ta đã góp phần với nhân loại nhiều kiểu dáng buồm :buồm cánh dơi,cánh kèo trên các con thuyền ngoài Bắc,các loại buồm chữ nhật, buồm tam giác trên những chiếc nốc Huế,ghe bầu ,ghe nang …cho tới những thuyền buồm Hà Tiên vùng vịnh Thái Lan.Cuộc cách mạng cơ giới đã đẩy lùi những cánh buồm ra khỏi cuộc chơi hàng hải nhưng buồm đã kết thúc bằng một sự kiện khá thú vị đó là “Kỷ nguyên vàng của buồm” vào những năm giữa thế kỷ 19 với các cuộc đua của những thuyền buồm chở chè loại clipper trên tuyến đường Phúc Kiến Trung quốc về London Anh Quốc.Xác một trong những chiếc tàu buồm nổi tiếng đó,chiếc Taiping hiện còn nằm lại trong quần  đảo Trường Sa của chúng ta.Bắt đầu là máy hơi nước,rồi động cơ diesel,tua bin,động cơ hạt nhân dần dần chiếm chỗ những cánh buồm trắng phau trên các con tàu.”Thất nghiệp” ,buồm ngày nay trở thành “thày dạy” huấn luyện kỹ năng cho người đi biển và xuất hiện trên những du thuyền mong truyền cảm hứng đại dương cho con người cũng như trên các mega yacht cực kỳ đắt tiền trong các hội chợ tại vương quốc xa xỉ Monaco.
Trên các con tàu viễn dương hiện đại,người đi biển được bao bọc trong căn phòng chỉ huy cao hơn nước biển có khi tới 10 mét,được điều hòa mát rượi,và yên tĩnh vô cùng .Biển cả với anh chỉ còn là những nhấp nháy xanh sáng trên màn hình các loại máy tính và những tiếng rì rào của hàng loạt thiết bị điện tử hàng hải .Nhưng đi biển không phải là một cuộc du ngoạn nhẹ nhàng mà thực chất mỗi chuyến đi là một “phiêu trình hàng hải” đầy cam go ,cạm bẫy .Biển cả trông hiền hòa là vậy nhưng đầy sức mạnh phá phách khi nó nổi giận trong các trận bão tố,sóng thần ,khi ta không trông thấy kẻ thù dấu mặt đang ẩn nấp với đủ loại thủy lôi ,UAV,tàu ngầm hòng tiêu diệt ta để bành trướng chủ quyền trên biển !Bởi vậy,tại tất cả các trường huấn luyện đào tạo nghề biển,các học viện hải quân đều huấn luyện kỹ năng tồn tại trong trạng thái nguy cấp nhất ,khi con tàu đã mất hết sức sống ,điện tắt,khoang tàu ngập lụt,máy liên lạc sự cố …Lúc này ,con người phải vận dụng mọi kỹ năng chiến đấu,bảo vệ sinh mạng bản thân và đồng đội .Và phương tiện huấn luyện không gì hay hơn là những cánh buồm .Trên thuyền buồm ,bất kỳ lúc nào ta cũng tiếp cận với thiên nhiên,ta thành thạo với tất cả những yêu cầu của môn thủy nghiệp căn bản đó là :nút dây,bơi lội,cứu sinh ,cấp cứu,chèo thuyền …Chính vì thế,một đội ngũ thủy thủ Việt Nam đang được huấn luyện trên một chiếc tàu buồm,đó là chiếc Iskra

Thực tập trên tàu buồm Iskra
Chiếc chuông đồng trên tàu IskraChiếc chuông đồng trên tàu IskraĐể thành thạo chỉ huy con tàu huấn luyện  ,đội ngũ thủy thủ Việt Nam gồm 30 người hiện nay đang được huấn luyện trên một chiếc tàu cũng thuộc loại barkentine .Đó là chiếc ORP Iskra ,có nghĩa là Tàu “Tia lửa “ của Hải quân Ba Lan (ORP Okręt Rzeczypospolitej Polskiej –Tàu của Cộng hòa Ba Lan ) . Tàu thuộc loại barkentine theo sê ri Pogoria[1] là tàu buồm đầu tiên được đóng tại Xưởng Lê nin Gdansk vào năm 1980 ,tiếp theo đó là các chiếc cùng sê ri  như Iskra ,Kaliakra (cho Bulgaria) Con tàu này được Zygmund Choren thiết kế và đóng năm 1982 nhằm thay thế cho chiếc tàu buồm huấn luyện cùng tên Iskra đã cũ kỹ (đóng năm 1929) phải giải bản .Tàu Iskra có các đặc tính : MMSI: 261203000, lượng chiếm nước 380 tấn,dung tải 299 BRT,chiều dài toàn bộ 49 mét,chiều rộng 8 mét,mớn nước trung bình 3,8 mét,mớn mũi 3,6 mét,mớn đuôi 4 mét,chiều cao tối đa 33,5 mét,động lực phụ ngoài buồm diesel Volvo Penta D9MH công suất 355 CV (261 kW),chân vịt đường kính 1,5 mét,tốc độ tối đa 9 hải lý/giờ.Biên chế trên tàu bao gồm 5 sĩ quan,4 hạ sĩ quan và 9 thủy thủ.Trường học bao gồm 2 sĩ quan huấn luyện và bác sĩ,45 học viên .
Tàu Iskra đã thực hiện một chuyến đi vòng quanh thế giới vào năm 91-92 và luôn tham gia các cuộc đua tàu buồm toàn cầu mang tên Cutty Sark và đã giành được giải thưởng vào các năm 2000,2007  .Những nước dùng tàu barquentine để huấn luyện hải quân là  Anh,Bỉ,Indonesia,Chi lê,Ba Lan…Một số nước dùng các loại tàu buồm lớn hơn . Đây là một tàu thuộc loại barquentine theo tiếng Anh ,barkentina theo tiếng Ba Lan , hay còn gọi là barque ,tức là tàu có ba cột buồm .Loại buồm này có xuất xứ từ tây bắc châu Âu và Mỹ ,khác hẳn với các loại buồm của chúng ta là các buồm thu lại được quanh thép buồm (Junk sail) ,buồm treo trên các barquentine là những buồm tứ giác (square-rigged)

Cuộc đua tàu buồm huấn luyện trên toàn cầu
Cuộc đua toàn cầu các tàu buồm có tên là ‘Tall Ships Race”  được tổ chức từ năm 1997 tới 2003 do Cutty Sark Whisky tài trợ ,từ năm 2004 tới 2010 do Antwerp Hà Lan và 2010- 2014 do thành phố Szczecin Ba Lan tài trợ.Những cuộc đua đó khích lệ các con tàu thuộc tổ chức Sail Training International ,tập hợp được tất cả các loại tàu buồm to nhỏ  mà tên gọi lóng là “anh chàng cao kều tall ship” cùng tham gia   .
Nước Anh với truyền thống hàng hải lâu đời ,đã có nhiều công ty chuyên thiết kế yacht,tàu buồm ,trình diễn tại nhiều hội chợ quốc tế ,trong đó có hội chợ Monaco.Nổi bật lên là nhà thiết kế Colin Mudie với một loạt tàu thuyền buồm cổ xưa của người La Mã,Anh ...trong đó có cả chiếc mảng Sầm Sơn mà Tim Severin và Lương Viết Lợi đã thực hiện chuyến viễn du 5500 dặm trên Thái Bình Dương.Ông cũng là người thiết kế chiếc tàu buồm huấn luyện của Hải quân Ấn độ mang tên “Sudarshini” có nghĩa là “Nữ thần Sudari xinh đẹp”.(LBT= 54 x 8,30 x 4,5 mét;cột buồm 33,5 mét).Tàu đã viếng thăm Đà Nẵng vào Tết Dương lịch 2013 với con tàu vừa “ra lò” vài tháng !
Giới hàng hải Ba Lan biết tới  Zygmunt Choreń (sinh năm 1941) như “Cah đẻ của tàu buồm” của nước này.Tốt nghiệp trường Bách Khoa Gdansk , sau đó học tiếp Trường Đóng Tàu Leningrad LKI và nhận bằng kỹ sư vào năm 1965.Bằng thuyền trưởng tàu buồm ,là thành viên tham gia cuộc đua thuyền buồm vòng quanh thế giới Whitbread lần thứ nhất (1973-1974) ,giảng dậy tại Bách khoa Gdansk (1965-1968) sau đó chuyển sang làm việc tại Phòng thiết kế của Xưởng Gdansk.Từ năm 1978 là kỹ sư trưởng thiết kế tàu buồm của Xưởng Gdansk.Ông đã thiết kế những tàu buồm nổi tiếng thế giới như chiếc Royal Clipper,Frederic Chopin và đặc biệt là con tàu fregate “Dar Młodzieży” –“Quà tặng cho Tuổi trẻ “ và năm chiếc tàu buồm tương tự như thế cho Liên Xô (các chiếc Druzhba,Khersones,Mir,Pallada,Nadezhda)  .Công ty thiết kế Choreń Design and Consulting do ông sáng lập vào năm 1992 ,vào lúc chuyển Ba Lan đổi thể chế cùng với sự tan rã của Xưởng Lê Nin Gdansk ,đã tiếp tục phát huy tài năng của một kỹ sư đã sở hữu những bản thiết kế tạo ra trên 17 con tàu buồm đang chạy xuôi ngược trên đại dương dưới ngọn cờ các nước Ba Lan,Bulgaria,Nga,Ukraine,Đức,Phần Lan,Nhật Bản và Panama.Hiện nay Công ty Choren có 10 kỹ sư cơ hữu tài năng,tất cả trước đây đều làm trong Xưởng Lê Nin Gdansk ,ngoài ra còn có một số kỹ sư cộng tác khi cần thiết
Tàu buồm huấn luyện Sudarshini vào cảng Đà NẵngTàu buồm huấn luyện Sudarshini vào cảng Đà Nẵng
Cha đẻ tàu buồm Ba LanCha đẻ tàu buồm Ba Lan

Tàu buồm huấn luyện của Hải quân Việt Nam
Hiện nay ,theo chúng tôi biết, con tàu chưa được đặt tên nên trên các cấu kiện của con tàu tại Xưởng của Cty MarPro Ltd đều ghi mã số là SPS-63
Được cải tiến từ các thiết kế của Pogoria ,Iskra ,con tàu SPS-63 có các đặc tính :
-Chiều dài toàn thể 67 mét ;chiều dài theo mặt boong  58,3 mét
-Chiều rộng 10 mét
-Mớn nước 4 mét
-Tổng diện tích buồm 1400 mét vuông .3 cột buồm cao 40 mét
-Định biên 30 người .Học viên :80
Như vậy nó hơi lớn Iskra và cũng nằm trong các kích thước của tàu huấn luyện Hải quân Ấn độ Sudarshini.Công ty nhận đóng con tàu có tên tắt là MarPro viết tắt các chữ Marine Projects Ltd được thành lập vào năm 1989 từ một số kỹ sư xuất thân từ Xưởng Lenine Gdansk.Ban đầu ,họ mua được mảnh đất nhỏ trên đảo Ostrow ,gần với Xưởng Lenine và chỉ tập trung làm các thiết kế công nghệ phụ giúp cho đóng tàu Ba Lan và nước ngoài .Tới năm 1999,việc làm ăn ngày càng khấm khá,MarPro mua được mảnh đất mới ven sông Vistula ,trong khu công nghiệp cảng Gdansk và ngày cang hiện đại hóa công xưởng.Năm 2003,MarPro thành lập một công ty con tên là Conrad ,chuyên chế tạo các yacht sang trọng,các loại thuyền buồm .Việc được tên này có ý nghĩa rất lớn vì ,như ta đã biết, Joseph Conrad là thuyền trưởng-nhà văn Anh gốc Ba Lan nổi tiếng thế giới ,với những tác phẩm đã được dựng phim,và đưa vào sách giáo khoa tiểu và trung học.Một chiếc tàu buồm mang tên Joseph Conrad đã từng nhiều lần vòng quanh thế giới hiện nay được triển lãm tại Bảo tàng Mystic Hoa Kỳ.   Điều đặc biệt là tàu buồm này có trang bị 4 súng máy WKM – Bm cỡ 12,7 mm do nhà máy Tarnow  (Zakłady Mechaniczne Tarnów SA) để ngoài việc huấn luyện còn làm công tác tuần tra trên biển .
Theo dự kiến ,tàu buồm huấn luyện này sẽ về Việt Nam vào mùa thu năm nay .Những người chơi thuyền buồm chúng ta rất vui mừng khi đội tàu Việt Nam có con tàu này .Và còn nhiều chuyện quanh những cánh buồm ,những phong tục tập quán biển của buồm mà ngày nay chúng ta mới đề cập tới !
Trên Facebook cũng có nhiều bạn Ba Lan đưa tin về sự kiện này , các bạn có thể tìm đọc


Hình bên bản vẽ của tàu buồm huấn luyện của Hải quân Việt Nam

Vui mừng trong ngày lễ đặt ky .Đứng giữa là thuyền trưởng Đàm Xuân Tuấn của Học viện Hải quân Nha Trang và lãnh đạo Marine Project Ltd trong đó có Phó Giám đốc kỹ sư Stanisław Bobowiec và kỹ sư trưởng Tadeusz Zieliński

Tàu nằm trên triền của Xưởng Conrad

Phân đoạn  tàu được cẩu lên trong lễ đặt ky

Xưởng Conrad của Marine Projects Ltd

Nhà thiết kế Zigmunt Choren bên lá cờ Việt Nam

[1] Tên Pogoria là địa danh quê hương của ông trùm truyền thông  Ba Lan thời đó là  Maciej Szczepanski,"bồ tèo" của Tổng Bí thư Đảng Công nhân Thông nhất Ba Lan  Edward Gierek ,người tiếp nối Gomulka và gắn liền với sự kiện Công Đoàn đoàn Kết .Tàu buồm Pogoria được chế tạo với mục đích phục vụ một số chương trình truyền thông của Maciej vì cánh buồm luôn là câu chuyện hấp dẫn !

F.A. Sallenave và cuốn sách "Bois et Bateaux du Vietnam"


Bài viết về chủ đề này đã gửi cho Xưa và Nay và lưu tại đây
Với giới dân tộc học toàn cầu hiện nay ,tên tuổi của Françoise Aubaile-Sallenave không có gì xa lạ .Bà được coi là một trong những người đi tiên phong trong môn thực vật học-dân tộc (ethnobotanique),dân tộc học-sinh thái (eco-),một chuyên gia về Thế giới Ả-Rập ( spécialiste du monde arabo-musulman).Là một nghiên cứu viên cao cấp của CNRS (Centre national de la recherche scientifique-Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp ) bà đã tiến hành các nghiên cứu trong một đội ngũ các nhà nhân học-snh thái (éco-anthropologie) và sinh học-dân  tộc (ethnobiologie) cùng với Bảo tàng Quốc gia về Lịch sử Tự nhiên (Muséum national d'histoire naturelle ) .Những nghiên cứu đó tập trung vào mối quan hệ giữa Con Người với tự nhiên trong vùng Địa Trung Hải và thế giới Ả Rập .Ses recherches portent sur les plantes aromatiques et odorantes, ainsi que sur les savoirs et les pratiques liés à l'alimentation, aux plantes utiles, et à leur histoire. En 1987-1988, Françoise Aubaile-Sallenave a réalisé au Muséum l'exposition Parfums de Plantes et dirigé la rédaction du catalogue, qui fait référence dans ce domaine nouveau de l'anthropologie des parfums

P.Sallenave 23 năm là kỹ sư thủy lợi và lâm nghiệp  Bắc Kỳ  Trong 50 tấm hình có 9 của P.Sallenave
Gouvernement général de l'Indochine. Institut des recherches agronomiques et forestières. Résistances mécaniques et assemblages des boís: par P. Sallenave,...
impr. I.D.E.O., 1943 - 70 trang


Notes sur les forêts claires du Sud de l'Indochine [Rollet B.]
Petits ponts forestiers en bois [Sallenave P.] Fiches botaniques, forestières, industrielles et commerciales : Ovoga [CTFT] Humidité des bois en grumes et prix de transport [Sallenave P.]

P.] Note sur une nouvelle scie forestière [Sallenave P.]Auteur(s) Sallenave P.
Thème(s) Bois et Forêts des Tropiques
Date de publication 1953
Pagination 53-60
Numérotation 31
Auteur(s) Sallenave P.
Thème(s) Bois et Forêts des Tropiques
Date de publication 1949


Trước Cách mạng và trong thời kì kháng chiến chống Pháp , chỉ có một nhà máy chưng
cất tinh dầu Hồi ở thị xã Lạng sơn , nhà máy giấy Đáp cầu sản xuất với nguyên liêu là nứa.
Viện nghiên cứu Nông Lâm nghiệp Đông dương (Institut de recherche agronomique et
forestière de l’ Indochine) thành lập ngày 20-10-1937, tiến hành một số đề tài nghiên cứu về
chế biến LSNG như gia công nhựa cánh kiến đỏ, áp dụng qui trình công nghệ sản xuất shellac
( nhựa dưới dạng màng mỏng )
15. Histoire du regime et des services forestiers francais en Indochine de 1982 à 1945.
Frederic Thomas. Nhà XB Thế giới , Hanoi , 1999 .

Hệ thực vật: Trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 qua các tài liệu của người Pháp để
lại trong “ Thực vật chí tổng quát của Đông dương - Flore general de L’Indochine”, nước ta
chỉ có khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao, nhưn

LTuy thực hiện chế độ thực dân, nhưng người Pháp cũng đã áp dụng vào nghề rừng
Đông Dương những tiến bộ khoa học kĩ thuật trong quản lý và nghiên cứu khoa học. Lâm sản
đã được nghiên cứu, khảo sát và từ 1900 một tài liệu đầu tiên về tài nguyên rừng đã được
công bố, như tài liệu: “Những ghi chép về những sản phẩm chủ yếu của Đông dương” (Notes
sur les principaux produits de l’ Indochine - Saigon 1900) nêu rõ giá trị kinh tế của các sản
phẩm rừng Việt nam, Lào, Căm pu chia. Một số lớn LSNG được trưng bày ở triển lãm Paris
năm 1931 và được mô tả trong các tài liệu khoa học như “Gỗ Đông Dương” của A.
Chevalier; “Thực vật chí Đông Dương” do Lecomte biên soạn; “Rừng ở Đông Dương” của Maurand và nhiều tài liệu khác.
Thông 3 lá ưa sáng, khí hậu ẩm, tái sinh hạt tốt nơi đất trống. Mùa hoa tháng 4-5; quả
chín sau 2 năm. Rừng Thông Ba lá tự nhiên cũng như trồng, có thể đạt năng suất 200 m3
/ha
trong luân kỳ 15 năm.
Gỗ có phẩm chất tốt, không phân biệt dác và lõi, mầu vàng cam nhạt, để ngoài không
khí lâu chuyển thành mầu nâu vàng nhạt, mềm nhẹ. Một số tính chất cơ vật lý như sau: Khối
lượng riêng: D12= 0,75 g/cm3; Điểm bão hoà thớ gỗ: 35% ; Độ dãn nở thể tích: 11,8%; Độ
dãn nở tiếp tuyến: 8,0% Độ dãn nở xuyên tâm: 7,0%; Độ bền kéo : 19,7 kg/cm2
; Độ bền trượt
dọc: 85,0 kg/cm2
; Độ bền nén: 760 kg/cm2
. Độ bền uốn tĩnh: 2080 kg/cm2
; Độ bền va đập:
0,37kgm/cm2
(theo Sallenave). Cây ở tuổi 15- 40, gỗ có thể dùng làm nguyên liệu giấy, gỗ của
cây trên 40 tuổi dùng đóng đồ gỗ thông dụng, bao bì, gỗ bóc… Thông ba lá được trồng để lấy
gỗ nhưng từ những năm 80 thế kỉ trước Phân viện Lâm đặc sản đã nghiên cứu trích nhựa loài
thông này và đã cho thấy sản lượng nhựa của một cây Thông 3 lá 15 tuổi vào khoảng 2-2,5
kg.

  es Matériaux de construction des embarcations vietnamiennes [Texte imprimé] / Françoise Aubaile ; sous la dir. de Georges Condominas / Paris : [s.n.] , 1974

Les voyages du henné [Texte imprimé] / par Françoise Aubaile-Sallenave / Paris : Muséum national d'histoire naturelle , 1982

L' agriculture musulmane aux premiers temps de la conquête [Texte imprimé] : apports et emprunts : à propos de Agricultural innovation in the early Islamic world de Andrew M. Watson / par Françoise Aubaile-Sallenave / Paris : Muséum national d'histoire naturelle , 1984

Bois et bateaux du Viêtnam [Texte imprimé] / Françoise Aubaile-Sallenave, ... ; préface de Lucien Bernot, ... / Paris : SELAF [Société d'études linguistiques et anthropologiques de France] , 1987

Les soins de la chevelure chez les musulmans au moyen âge [Texte imprimé] : thérapeutique, fonction sociale et symbolique / par Françoise Aubaile-Sallenave / Nice : Faculté des Lettres et Sciences Humaines, Université de Nice , 1987

Curriculum vitae de Françoise Aubaile-Sallenave [Texte imprimé] / [S. l.] : [s. n.] , 1988

Algunos rasgos comunes de las cocinas mediterráneas [Texte imprimé] / Françoise Aubaile-Sallenave / Sevilla : Los autores , 1996

Les nourritures de l'accouchée dans le monde arabo-musulman méditerranéen [Texte imprimé] / Françoise Aubaile-Sallenave / Saint-Denis : Presses universitaires de Vincennes - Paris 8 , 1997

The influences in the mediterranean "cuisine" and diet [Texte imprimé] / Françoise Aubaile-Sallenave / Roma : Istituto Italiano di Antropologia , 1998

Odeurs et alimentation dans quelques sociétés de Méditerranée [Texte imprimé] : premiers résultats d'une enquête sur perception et reconnaissance / Françoise Aubaile-Sallenave / Paris : Société d'Anthropologie de Paris , 2000

Histoire naturelle et culturelle des plantes à parfum [Texte imprimé] / Françoise Aubaile-Sallenave / Paris : Ibis press , DL 2002



Collaborateur :

 Parfums d'orient [Texte imprimé] / textes réunis par Rika Gyselen ; avec la collaboration de Françoise Aubaile-Sallenave, Sydney Aufrère, Alessandra Avanzini... [et al.] / Bures-sur-Yvette : Groupe pour l'étude de la civilisation du Moyen-Orient , 1998, cop. 1998



Directeur de publication :

 La viande [Texte imprimé] : un aliment, des symboles / sous la dir. de Françoise Aubaile, Mireille Bernard, Patrick Pasquet / Aix-en-Provence : Edisud , 2004



Secrétaire :

Vanilles & orchidées  / Musée international de la parfumerie, Grasse ; comité de réd. Françoise Aubaile... [et al.] / Aix-en-Provence : Edisud , 1993
Directeur de thèse :
Ethnoécologie d'une société mentawai [Texte imprimé] : femmes, mangroves et coquillages de l'île de Siberut (Indonésie) / Ariadna Libertad Burgos ; sous la direction de Serge Bahuchet etFrançoise Aubaile-Sallenave / [S.l.] : [s.n.] , 2013
Với những ai nghiên cứu về thuyền bè và các tập tục hàng hải của dân tộc ,không ai không biết tới F.A.Sallenave.Cũng như các bậc tiền bối người Pháp như đô đốc Paris, nhà khảo cổ Claeys,chánh Sở Ngư nghiệp P.Pietri...cuộc đời của bà đã gắn với xứ Dông Dương,với những chiếc thuyền mành

Bà có tên đầy đủ là Françoise Aubaille -Sallenave sinh năm 1945 .cuốn vật liệu đóng thuyền năm 1974 (29 tuổi)
Françoise Aubaile-Sallenave. 1974 - 504 pages.
La Viande: un aliment, des symboles by Françoise Aubaile; Mireille Bernard; Patrick Pasquet
Émilie Maj
L'Homme
No. 181 (Jan. - Mar., 2007), pp. 234-237

Histoire Naturelle Et Culturelle Des Plantes A Parfum
Françoise Aubaile-Sallenave (auteur)
Editeur : Ibis Press. Date de parution : mai 2005.
Françoise Aubaile-Sallenave, ethnologue au CNRS, conduit ses recherches dans l'équipe éco-anthropologie & ethnobiologie associée au Muséum national d'histoire naturelle. Elle se consacre à l'étude des rapports de l'Homme avec la nature dans le monde méditerranéen et arabo-musulman. Ses recherches portent sur les plantes aromatiques et odorantes, ainsi que sur les savoirs et les pratiques liés à l'alimentation, aux plantes utiles, et à leur histoire. En 1987-1988, Françoise Aubaile-Sallenave a réalisé au Muséum l'exposition Parfums de Plantes et dirigé la rédaction du catalogue, qui fait référence dans ce domaine nouveau de l'anthropologie des parfums
Aubaile-Sallenave, Françoise (1945-....) - Bienvenue sur IdRef, le référentiel des auteurs des catalogues Sudoc, Thèses.fr et Calames.
Topkapi à Versailles (French) Paperback – May 19, 1999
by Françoise Aubaile-Sallenave (Author), Association française d'action artistique (Author)
Françoise Aubaile-Sallenave
Ethnologue, ethnobotaniste. Chercheur au Laboratoire d'ethnobiologie-biogéographie du Muséum national d'histoire naturelle (en 1987).
Livres dont Françoise Aubaile-Sallenave est l'auteur
Histoire naturelle & culturelle des plantes à p...
Françoise Aubaile-Sallenave
Éd. Ibis Press
Bois et bateaux du Viêtnam
Françoise Aubaile-Sallenave
Selaf [Société D'Études Linguistiques Et Anthro...
La viande, un aliment, des symboles
Françoise Aubaile-Sallenave, Mireille Bernard, Patrick Pasquet
Edisud
Achetez Histoire Naturelle & Culturelle Des Plantes À Parfum de françoise aubaile-sallenave au meilleur prix sur PriceMinister. Profitez de l'Achat-Vente Gar
Impressions d'Orient et d'Arabie, un cavalier polonais chez les Bédouins, 1817-1819
Wacław Seweryn Rzewuski
Corti
.Condominas, Georges (1921-2011) Les Matériaux de construction des embarcations vietnamiennes [Texte imprimé] / Françoise Aubaile ; sous la dir. de Georges Condominas / Paris : [s.n.] , 1974