Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2009

Gặp Capt Bùi Huy Túc -đội tàu Giải Phóng


Nhắc tới đội tàu Giải Phóng,người ta thường nói tới hai nhân vật :Nhữ Cao Tài và Bùi Huy Túc.Tôi đến nhà anh Túc vào sáng thứ bảy 31/07/09,một căn nhà sau chợ Văn Thánh ồn ào,khi tổ trưởng tổ hưu trí của Vosco này đang mải mê xem bóng đá trên kênh “suốt ngày chỉ bóng”còn nội tướng của người đi biển đang giỗ đứa cháu nội.Bùi Huy Túc sinh năm 1937 ,quê quán Nam Định,học sinh Trung Cấp Hàng Hải khóa 1

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2009

ĐỀ CƯƠNG BIÊN SOẠN “TỪ ĐIỂN HÀNG HẢI VÀ GIÀN KHOAN BIỂN HÁN-ANH-VIỆT

Trong công cuộc phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền trên biển,việc giao lưu với các nền văn hóa lớn và sử dụng các ngoại ngữ là vô cùng cấp thiết.Ngoài việc phổ cập tiếng Anh chuyên ngành ,các ngôn ngữ khác như tiếng Nga,Pháp,Trung…cũng rất cần thiết phải có những sách công cụ chuyên ngành hàng hải.Không phải chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu học tập,các sách công cụ đó còn cần thiết cho các hoạt động hàng ngày diễn ra trên biển cả,tại các bến cảng.Xuất phát từ tình hình đó,nhóm Văn Phong chúng tôi cho tiến hành biên soạn cuốn “Từ Điển Hàng Hải và Giàn Khoan Biển Hán-Trung –Việt”


Sách tham khảo:
汉英船舶近海工程词典 HànYīng chuánbó jìnhǎi gōngchéng cídiǎn do 何志刚 (Hé Zhìgāng Hà Chí Cương) và () chủ biên ,nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Thượng Hải xuất bản năm 2006


Một trang thử
A

[ā]
阿基米德定律 law of Archimedes Định luật Archimede
阿基米德螺旋 Archimedes screw Đường xoắn ốc Archimede
阿基米德原理 Archimedes principle Nguyên lý Archimede

[āi]
埃 Angstrom Angstrom (đơn vị đo độ dài bằng 10-10 mét)
埃单位 Angstrom unit (A.U) đơn vị Angstrom

[ǎi]
矮 superstructure (dwarf) wall thành của thượng tầng kiến trúc (trên tàu)
矮型平台 squat platform giàn khoan kiểu thành
霭 mist bụi,sương (ví dụ bụi nước)

[ài]
爱立无杆锚Allison ‘s anchor neo không ngáng Allison
碍 difficult area khu vực khó khăn (cho công việc hàng hải)
碍航物界限 limiting danger line đường giới hạn nguy hiểm hàng hải
[ān]
安 safety ,safe an toàn
~平衡 stable equilibrium cân bằng bền

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2009

Giáo sư Vũ đình Cự giới thiệu thủy lôi cho các nhà lãnh đạo tối cao



Chúng tôi muốn giới thiệu với các bạn những bức ảnh về buổi giới thiệu của giáo sư Vũ đình Cự về kết quả nghiên cứu chống thủy lôi với các nhà lãnh đạo cao cấp của nhà nước vào năm 1972.Trong ảnh chúng ta có thể thấy các vị Trường Chinh,Hoàng Quốc Việt...

Và 36 năm sau,trong một bức thư gửi Nguyễn Thái Phong đội trưởng phá lôi của Đường Biển,giáo sư viết nguyên văn như sau :

Vũ đình Cự
Hà nội, ngày 4 tháng 1 năm 2008

Thân gửi : Anh Nguyễn Thái Phong

Như đã trao đổi với anh ở Hà nội, sau khi hỏi các d/c trong Bách khoa (vì đã quá lâu nên sợ quên) và đọc lại một số tài liệu còn lưu, tôi trao đổi với anh một số việc sau:
1) Chúng tôi có tham gia với các anh về cải tiến con tầu để rà phá trong phần nguồn có chỉnh lưu dòng một chiều và một số đo đạc…
Sau đóVụ Kỹ Thuật có báo cáo tàu này rà phá tốt, do đó các báo chí có viết như vậy.
Đến nay, nghĩa là sau 35 năm, mới có thông tin rằng: khi tàu này xong đưa đi rà phá thì đã rà phá xong rồi.
Thật đáng tiếc, nếu biết sớm như vậy báo sẽ viết khác. Cụ thể là chỉ kể về tàu tự động rà phá T5, các thiết bị dùng cho đường bộ trong đó có đường HCM,đường sông và ven biển vào miền Trung.
Như vậy lỗi là từ thiếu thông tin.
2) Trong đầu nổ mà chúng tôi cưa ra, ngoài chất chống ẩm còn có một vòng với lớp nhôm ở ngoài chưa rõ công dụng. Nhờ quân giới kiểm tra thì đó là vòng thuốc nổ mà Mỹ cài bẫy trong đầu MK-42.
3) Chúng tôi bất ngờ được Bộ, lúc đó d/c Đinh Đức Thiện làm Bộ trưởng, gọi lên tham dự 1 triển lãm ở trong biệt thự, tôi chỉ được lệnh giới thiệu tính năng cơ bản của đầu MK-42. Còn các phần khác do các nhóm khác giới thiệu, chứ không có Bách Khoa.
Sự hợp tác giưa chúng ta thật tốt đẹp, tôi xin chân thành cám ơn sự hợp tác của chúng ta.

Bức thư của giáo sư Vũ đình Cự nhằm đinh chính các việc đã làm trong quá khứ,giải thích công tác phá thủy lôi thực sư là do anh em hải quân và đường biển làm,sự đóng góp của các nhà khoa học chỉ trong một chừng mực nhất định .Tuy vậy,tại Đại Học Bách Khoa vẫn còn tấm biển ghi công muôn đời và huyền thoại GK1 vẫn bao trùm trên tất cả các văn bản ?
Thực chất công tác chế tạo thiết bị rà phá lôi ra sao,xim mời các bạn đọc bản báo cáo của kỹ sư điện Nguyễn Ngọc Linh,một thành viên trong tổ phá lôi tại hội nghị ngày 20 tháng 12 năm 2007 như sau


CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU, CHẾ TẠO THIẾT BỊ RÀ PHÁ
THUỶ LÔI Ở CỤC ĐƯỜNG BIỂN PHỤC VỤ CHO VIỆC BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI TRONG GIAI ĐOẠN 1965 – 1975.


Chân dung Nguyễn Ngọc Linh chụp năm 1967
Là một thành viên trong Tổ nghiên cứu phá thuỷ lôi của Cục Đường Biển, được phép của Cục Hàng hải, tôi xin được trình bày về công tác nghiên cứu, chế tạo thiết bị rà phá thuỷ lôi ở Cục Đường Biển, phục vụ cho việc bảo đảm an toàn hàng hải trong giai đoạn 1965-1975.
Cùng với việc leo thang ném bom phá hoại miền Bắc, năm 1967 đế quốc Mỹ đã tiến hành phong toả đường biển của ta bằng các loại thuỷ lôi từ tính.
Những vấn đề đặt ra cho Cục Đường Biển trước việc Mỹ phong toả thuỷ lôi là:
1. Phải thấm nhuần đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng trong toàn Cục, sát cánh cùng Hải Quân và các đơn vị bạn để chủ động tìm biện pháp rà phá thuỷ lôi của địch. Các cán bộ Khoa học kỹ thuật phải tự tin đi vào tìm hiểu lĩnh vực bom mìn, thuỷ lôi, không né tránh cho rằng việc này là của bên quân sự mà có tư tưởng trù trừ chờ đợi.
2. Trong các nhiệm vụ của Cục Đường Biển, có một nhiệm vụ vô cùng quan trọng là đảm bảo an toàn hàng hải. Địch thả thuỷ lôi làm mất an toàn hàng hải. Nhiệm vụ đương nhiên của Cục Đường Biển là phải phá bỏ sự mất an toàn này. Vì vậy toàn Cục Đường Biển đã lao vào mặt trận này với một quyết tâm cao, vượt qua mọi khó khăn, không sợ gian khổ, hy sinh.
3. Phải nhanh chóng nắm được tính năng, tác dụng của các loại thuỷ lôi để trong thời gian ngắn nhất chế tạo được các thiết bị rà phá đạt hiệu quả cao.
4. Phải nắm vững âm mưu, thủ đoạn phong toả bằng thuỷ lôi của địch.
5. Phải tranh thủ tối đa sự chi viện của cấp trên, hợp tác chặt chẽ với các đơn vị bạn, huy động tối đa mọi nguồn năng lực của Cục cho công tác nghiên cứu, chế tạo thiết bị rà phá thuỷ lôi.
Trước những vấn đề đặt ra cấp bách như trên, Cục Đường Biển đã:
- Tổ chức thành lập tổ nghiên cứu rà phá thuỷ lôi. Bước đầu là 1 tổ nghiên cứu hỗn hợp Đường Biển + Hải Quân, cho ra đời PĐ-67-1.
- Sau đó là tổ nghiên cứu của Đường biển, cho ra đời PĐ – 67 – 02 và PĐ - 67 – 03).
- Chỉ đạo thành lập các đội rà phá thuỷ lôi ở các đơn vị (Ty Bảo đảm hàng hải, Cảng Hải Phòng, Cảng Bến Thuỷ ….)
- Kết quả là tổ nghiên cứu hỗn hợp Đường Biển + Hải Quân được thành lập ngày 18/4/1967 thì chỉ sau hơn 2 tháng đã sản xuất được PĐ - 67 – 01 và đưa đi rà phá ở Khu IV.
PĐ – 67 – 01 là một phao vỏ sắt bên trong đặt 1 búa đập tạo âm thanh ở bên ngoài, phía sau đặt 1 cuộn phát từ hình chữ U, phía đầu gắn 1 ăng ten. Dùng đầu nổ của MK- 50 để thử, cho tín hiệu nổ ở cự ly 17m.
PĐ- 67 – 01 được C8 Hải Quân đưa thử ở Khu IV nhưng không kết quả. Tuy PĐ- 67 – 01 chưa thành công nhưng đã nói lên được tinh thần làm việc khẩn trương, nhịp nhàng của nhóm nghiên cứu, cũng như của các đơn vị trong Cục Đường Biển và Hải Quân.
Tiếp theo là PĐ – 67 – 02 và PD – 67 – 03 ra đời.
Thiết bị gồm:
- 1 ống dây  300 mm, l = 500 mm (trên quấn dây)
- Ở giữa là 1 lõi từ
 200 x 1000 mm,  = 4mm (PĐ – 67 – 02 CT3)
65 x 65 x 1200 (PĐ – 67 – 03 Tôn Silic)
- 3 bình ắc quy 12v – 128 ah
- Bộ tự động tạo xung để kích nổ thuỷ lôi.
PĐ – 67 – 03 được thiết kế gọn nhẹ, đặt trên thuyền gỗ nhỏ, đã mở đầu bằng chiến công phá được 2 quả thuỷ lôi ở cửa Lạch Giang. Với kết quả này cấp trên đã cho phép sản xuất 40 bộ PĐ – 67 – 03, lúc này được mang tên ĐB – 67 – 3 cung cấp cho các đơn vị trong và ngoài ngành và được biết với tên chung là PĐ67, PĐ67 đã phát huy tác dụng ở các luồng sông, bến phà … và được các chiến sĩ trong các đội rà phá sáng tạo ra nhiều cách rà quét như kéo dây 2 bên bờ, thả trôi, gắn máy đĩa vào xuồng phá lôi kéo theo xuồng cao su có người ngồi để lái xuồng phá lôi.
Kết quả là phá được rất nhiều thuỷ lôi, mở rộng được nhiều luồng và bến phà.
Song song với việc thành lập tổ nghiên cứu, Cục Đường Biển cũng chỉ đạo các đơn vị thành lập các đội phá lôi (Ty BĐHH, Cảng Hải Phòng, Cảng Bến Thuỷ…)
Các đội phá thuỷ lôi có vai trò hết sức quan trọng:
- Sử dụng các công cụ thô sơ lúc đầu như tôn, nam châm vĩnh cửu để rà phá khi chưa có các công cụ chính quy.
- Thử nghiệm các thiết bị rà phá mới sản xuất, bổ xung đóng góp để hoàn chỉnh, tiến tới sản xuất hàng loạt.
- Bắt sống thuỷ lôi địch, tháo gỡ bộ phận điều khiển gây nổ cung cấp cho các nhóm nghiên cứu, đã giúp rất nhiều cho việc tìm hiểu tính năng tác dụng của thuỷ lôi, đưa đến việc chế tạo các thiết bị rà phá có hiệu quả cao.
- Các đội phá lôi của Cục Đường biển dần dần trở thành nòng cốt trong việc rà phá các trọng điểm, huấn luyện sử dụng và bàn giao thiết bị rà phá cho các đơn vị địa phương.
Với thiết bị được Cục Đường biển cung cấp, nhiều đơn vị của Đường Sông cũng phá nổ được nhiều thuỷ lôi địch.
Năm 1968 địch ngưng phong toả nhưng ta nắm được chúng vẫn chưa từ bỏ âm mưu phong toả tiếp khi chúng bị đánh ác liệt ở chiến trường miền Nam. Các đơn vị chức năng vẫn tiếp tục nghiên cứu, củng cố những hiểu biết về vũ khí địch để sẵn sàng vào cuộc.
Đúng như dự đoán, năm 1972 địch phong toả trở lại với thủ đoạn tinh vi hơn và với các loại thuỷ lôi phức tạp hơn và có độ nhậy thấp hơn trước rất nhiều (15 đến 20 lần). Chúng leo thang phong toả luồng vào cảng Hải Phòng bằng MK- 52 (luồng Nam Triệu). Chúng gây khó khăn cho việc rà phá bằng cách thả xen kẽ nhiều loại thuỷ lôi với nhiều loại độ nhậy khác nhau kết hợp với bom nổ ngay.
Tổ nghiên cứu của Cục Đường Biển được tập hợp trở lại do đồng chí Trần Văn Chấp làm Tổ trưởng.
Trước tình hình này đòi hỏi phải sản xuất loại thiết bị rà phá phát ra từ trường mạnh hơn và phải có dạng xung phù hợp.
Tổ nghiên cứu cùng các đơn vị sản xuất đã nhanh chóng cho ra đời ĐB-72-01 và ĐB-72-02.
* ĐB – 72 – 01 gồm:
- Cuộn phát từ : Dây được quấn trên 1 ống có kích thước 1000m/m; L = 800m/m.
- Lõi từ bằng tôn Silic có kích thước 150 x 150 x 1500m/m. ĐB-72-01 được lắp đặt trên các phương tiện tự hành như tàu Tự lực, Tàu cá… cho phép phá được thuỷ lôi an toàn ở cự ly xa hơn.
* ĐB – 72 – 02 là 1 khung dây chỉ có 1 vòng dây được gắn trên các phao nổi với đường kích 15m khi triển khai. Khi cho dòng điện chạy trong khung dây sẽ tạo được 1 từ trường thẳng đứng , nhằm phá các thuỷ lôi đã biết tương đối chính xác vị trí. Thiết bị này chưa mang lại kết quả.
Với ĐB-72-01 ta đã có một loạt các phương tiện rà phá rất có hiệu quả, giải phóng nhanh các luồng.
Riêng đối với thuỷ lôi được thả trên luồng Nam Triệu ta gặp rất nhiều khó khăn trong rà phá và chưa làm nổ được quả thuỷ lôi nào. Nhiều dấu hiệu cho thấy đây là loại MK-52.
Vấn đề đặt ra lúc này là phải cho ra đời một thiết bị phá thuỷ lôi có khả năng phát ra một từ trường rất mạnh ở cự ly tối thiểu 50m và có dạng xung hết sức phù hợp, giống như 1 con tàu thật cỡ lớn .
Trước tình hình đó, mấu chốt suy nghĩ của chúng tôi là địch thả thuỷ lôi để đánh tàu biển nên phải tạo tín hiệu giả như tín hiệu thật của một con tàu cỡ lớn.
Chúng tôi đã vận dụng những hiểu biết đã tích luỹ được suốt trong quá trình làm công tác nghiên cứu rà phá thuỷ lôi cộng với những tài liệu nghiên cứu do các đơn vị bạn cung cấp.
Cục Đường Biển đã vượt qua nhiều khó khăn về mọi mặt để sản xuất trong một thời gian ngắn nhất ĐB – 72 – 03.
Cũng xin nói đôi chút về ĐB – 72 – 03 niềm tự hào của Cục đường biển chúng tôi.
ĐB – 72 – 03 gồm các phần chính sau
* Cuộn phát từ: là một cuộn dây bọc cao su tiết diện 100mm2 quấn quanh một khung có kích thước 5000x5000x2000 m/m phần trên là khung thép, phần dưới là bản thân vỏ tàu tăng kit.
* Dòng điện sử dụng: 400A
* Số vòng dây : 124 vòng
* Bộ phận tạo xung: đây là bộ phận quan trọng nhất, mang nhiều tính sáng tạo.
Bộ tạo xung có nhiệm vụ chủ yếu:
- Thay đổi dòng kích từ của máy phát chính để được dòng điện trong cuộn dây phát từ biến thiên từ 0 – 400A.
- Tạo một xung hình sin gồm: ½ chu kỳ dương 4” đến 5”
½ chu kỳ âm 4” đến 5”
- Giữ nguyên chiều dòng điện vào ampe kế và vôn kế ở chu kỳ âm
- Vai trò chính của bộ tạo xung là giúp có được dạng tín hiệu rất giống tín hiệu của con tàu thực, khắc phục được việc đóng cắt với dòng điện lớn làm cháy các mặt tiếp xúc trong các cầu dao từ như ở các thiết bị trước.
* Lõi từ là cả khối sắt thép của tàu tăng kit cộng với 1 lõi tôn silic đặt ở trung tâm cuộn dây và có kích thước 3000 x 750 x 700 m/m, trọng lượng khoảng 7 tấn.
* Cường độ từ trường tính toán ở cự ly 50m (chưa kể ảnh hưởng của lõi từ):
H50 : 22 moe
Từ trường do ĐB – 72 – 03 tạo ra mạnh và rộng hơn rất nhiều so với các thiết bị trước.
Khi ĐB – 72 – 03 đi rà phá ở tuyến Đông Bắc đã gây nổ được thuỷ lôi ở rất xa và ở cả 2 bên trên một diện rất rộng phía trước con tàu. Thuỷ lôi nổ khiến những ngườ đi rà phá không đếm kịp.
Sau ĐB – 72 – 03 Cục Đường Biển đã cho ra đời ĐB – 72 – 04. Lúc này chúng ta gặp 2 khó khăn lớn:
- Không tìm ra máy phát điện một chiều cỡ lớn.
- Không còn dây bọc cao su tiết diện lớn.
Trước khó khăn này chúng tôi đã chuyển hướng dùng máy phát điện xoay chiều và nắn thành dòng điện một chiều qua bộ chỉnh lưu. Còn để giải quyết khó khăn về dây quấn chúng tôi đã nghiên cứu đặt cuộn phát từ trong lòng tàu tăng kít nên sử dụng được các loại dây quấn bình thường. Vì ở cuối giai đoạn phong toả nên ĐB – 72 – 04 chưa phát huy được nhiều tác dụng.
Từ cuộc chống phong toả tôi nghĩ rằng chúng ta rút được bài học kinh nghiệm sau:
1. Thấm nhuần đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng những đơn vị ngoài quân đội cũng có thể tham gia có hiệu quả trong công tác rà phá thuỷ lôi của địch.
2. Nguồn gốc của mọi thành công trong công tác phá thuỷ lôi, làm thất bại âm mưu phong toả đường biển của địch là:
- Sự chỉ đạo và chi viện kịp thời của cấp trên
- Sự quyết đoán trong chỉ đạo và tập trung kịp thời mọi nguồn năng lực cho công tác chống phong toả của lãnh đạo Cục Đường Biển.
- Sự phối hợp chặt chẽ, đoàn kết trong nghiên cứu, hướng dẫn và cung cấp tài liệu nghiên cứu của các đơn vị bạn.
- Tinh thần tận tụy, sáng tạo, không sợ gian khổ hy sinh của cán bộ khoa học kỹ thuật, các chiến sĩ trong các đội phá thuỷ lôi.
3. Thành công của chúng ta sẽ trọn vẹn hơn nếu tổ chức được kịp thời việc tổng kết chống phong toả, đánh giá được một cách đúng đắn:
- Âm mưu thủ đoạn của địch.
- Biện pháp đối phó của ta.
- Tính năng tác dụng của các loại thuỷ lôi của địch
- Giá trị của các tài liệu và đóng góp của chúng vào việc sản xuất các loại thiết bị rà phá.
- Tác dụng và hiệu quả của các phương tiện rà phá thuỷ lôi
4. Thành công của chúng ta cũng sẽ trọn vẹn hơn nếu chúng ta tiến hành kịp thời công tác khen thưởng một cách công bằng và chính xác.
Chính vì công tác khen thưởng làm không kịp thời nên cả người làm báo cáo cũng như người xét duyệt không phải là những người am hiểu diễn biến công việc của các đợn vị tham gia cuộc chiến chống phong toả. Do đó đã xảy ra nhiều việc hiểu lầm, ngộ nhận rất đáng tiếc.
Kết thúc bài phát biểu,là một thành viên trong tổ nghiên cứu phá thuỷ lôi, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Cục Đường Biển đã chắp cánh cho cán bộ khoa học kỹ thuật phát huy khả năng ság tạo của mình, cám ơn các đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu nghiên cứu có giá trị. Cám ơn các đồng chí trong các đội rà phá thuỷ lôi đã dũng cảm bắt sống nhiều thuỷ lôi của địch giúp nhiều cho công tác nghiên cứu, đã phát hiện các khiếm khuyết để hoàn chỉnh các thiết bị rà phá, đã sáng tạo nhiều cách rà phá làm tăng tính hiệu quả của thiết bị.
Cuối cùng xin thành kính tưởng nhớ đến các đồng chí đã từng tham gia công tác chống phong toả thuỷ lôi của địch đã không còn đến ngày hôm nay.

Cái mà giáo sư Vũ Đình Cự nói ở trên chính là thiết bị ĐB-72-04 ,đặt trên tàu 153 ,chưa hoạt động.Tuy vậy,trong buổi làm việc với chúng tôi ngày 30 tháng Chín năm 2007 tại nhà riêng tọa lạc tại Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội,giáo sư đã say sưa kể về các đóng góp rất cơ bản cho công tác phá lôi ,đó là thiết kế con tàu phá lôi ,phá được rất nhiều bom.Có lẽ đó là lý do tạo nên huyền thoại GK1,tạo nên tấm bia tưởng niệm các chiến công của "Đô Đóc Đặc NHiệm Vũ Đình Cự" hiện vẫn treo trên tường đại Học Bách kHoa Hà Nội.Chúng ta hãy nghe giáo sư nói gì về công tác thiết kế con tàu này:


Lịch sử khoa học Việt Nam,lịch sử cuộc chiến chông phong tỏa anh hùng của quân và dân Hải Phòng đòi hỏi phải có một cuộc đinh chính chính thức về vấn đề này khi rất nhiều các nhân chứng còn sống ! Không phải là một cuộc tranh luận công trạng ,không phải là một cuộc đấu đá..vì tất cả đã qua đi ,vinh quang và cay đắng,hữu danh và vô danh ...Mong rằng tấm lòng trí thức với đặc điểm ưa chuộng công lý,tôn trọng sự thật ,khát vọng tìm hiểu cái mới sẽ thức tỉnh ,sẽ át đi những yêu thích tầm thường của con người trước danh vọng,quyền lực...Tất cả đều là phù du ,nhát là khi các con người tham gia các sự kiện nói trên đều đã ở ngưỡng cửa tuổi 70,80 .Hy vọng thay !!
Tại cuộc họp cựu chiến binh đường biển Hải Phòng,đại tá Vũ Tang Bồng,cán bộ nghiên cứu lịch sử quân sự đã lớn tiếng kêu gọi:"Sự thật lịch sử phải được tôn trọng.Của Ceasar phải trả về Ceasar !"

Hoàng Quốc Hùng tưởng nhớ thày Nguyễn Văn Quế

Trong số các thày giáo của nghề hàng hải nước ta,có rất nhiều thày khác nhau.Có thày kinh nghiệm đầy mình sau lưng là hàng vạn hải lý đã qua ,có thày chưa từng đi tàu mà chuyên giảng dạy tránh va đụng tàu cho anh em thuyền trưởng bậc cao,có thày đầy các danh hiệu tiến sĩ kỹ sư nhà giáo ưu tú,nhân dân,có thày chỉ đơn giản một chữ "anh thày giáo" mà sống mãi trong lòng các thế hệ học trò.Nguyễn Văn Quế là một ông thày thuộc loại sau cùng như thế ,người thày đầu tiên của hải quân nhân dân Việt Nam và của ngành hàng hải Việt Nam.Tôi xin giới thiệu bài viết của Hoàng Quốc Hùng hiện sống bên Anh viết về người thày đầu đời của mình.Tưỡng cũng nên giới thiệu vài dòng về tác giả mà tôi chỉ mới biết qua văn bản.Anh sinh năm 1930,quê Quỳnh Lôi Quỳnh Lưu Nghệ An.Anh là học viên khóa 2 của Thủy Đội Sông Lô (1950-1951) trên núi rừng Việt Bắc. Sau đó anh là lính Hải Quân,là thuyền trưởng tàu biển...Tại sao anh sống bên Anh Quốc?Một tình cờ gần đây khiến tôi gặp thuyền trưởng NgVTh.,người của Vosco được cử sang Anh Quốc vào những năm đầu 80 để thành lập liên doanh hàng hải ViCub giữa Việt Nam và Cuba.Anh cho biết,ngoài nhiệm vụ hàng hải,công an còn muốn anh theo dõi HQ Hùng lúc này đã phải ra đi và sinh sống tại Anh vì Hùng có họ hàng với Hoàng Văn Hoan ! Nếu nhũng dòng chữ này tới anh Hùng ,mong anh cho phép tôi được dùng các bài viết của anh trong tuyển tập "Thủy Đội Bộ TTM" mà các anh Nguyễn Việt,Cao Xuân Thự,Hoàng Đại ...đã rất nhiệt tình góp nhặt,chuẩn bị.Những bài viết của các anh thật tươi tắn của một tuổi trẻ mong muốn dâng hiến cho Tổ Quốc mà tôi nghĩ thế hệ trẻ ngày nay cần được biết .Và lòng yêu mến người thày đầu tiên,thày Quế mà tôi cũng rất kính trọng dủ tôi không phải học trò của ông!Và để so sánh với các ông thày "dỏm" khác,rất nhiều,đang làm hỏng ngành giáo dục hàng hải nước nhà!

TƯỞNG NHỚ ANH
NGUYỄN VĂN QUẾ

Hoàng Quốc Hùng viết vào tháng Năm 1994

“Giơ tay đếm thử bao người
Chung vui năm ngoái năm nay không còn?”
Đó là hai câu thơ mà một thi sỹ đã đọc giữa Đại hội Quân chính tại chiến khu Bình Trị Thiên vào năm 1949 khi thấy một số bạn bè vắng mặt vì đã hy sinh trong chiến đấu.
Bây giờ tôi cũng muốn:
“Giơ tay đếm thử bao người
Chung vui “Thuỷ quân Bộ Tổng” mà năm nay không còn?”
Trong số những người không còn đó, có anh Nguyễn Văn Quế, giáo sư Hàng Hải đầu tiên của chúng tôi. Anh đã ra đi vĩnh viễn.
Anh Quế! Cho phép chúng tôi gọi anh là ANH như tôi vẫn gọi anh khi anh còn sống. Anh mất đi, chúng tôi những chiến sĩ Thuỷ quân Bộ Tổng thủa nào vô cùng thương tiếc anh. Thương anh vì anh có đạo đức tốt, tác phong tốt, học vấn tốt, kinh nghiệm nghề nghiệp tốt, nhưng anh đã chưa được “sử dụng” đúng mức, hợp lý. Do đó, những cái tốt của anh chưa đủ điều kiện để phát huy, cống hiến và phục vụ dân tộc tới mức tối đa. Tiếc vì anh không được “thọ” thêm để thấy đất nước được “đổi mới”, cuộc sống trăm màu ngàn sắc đang đua nở, tổ quốc đang thay da đổi thịt... như lúc sinh thời anh từng mơ ước.
Thương tiếc anh, không phải chỉ than ngắn thở dài. Chúng tôi, những học trò của anh muốn hồi tưởng lại những kỷ niệm sâu sắc về anh để tự rút ra những bài học bổ ích. Tôi chỉ muốn rất khiêm tốn hồi tưởng lại vài kỷ niệm về anh mà cá nhân tôi thấy là sâu sắc và có ý nghĩa nhất.
1. “Không có ai đậu trạng nguyên về hàng hải”
Năm 1950 -1951 chúng tôi là lính Thuỷ Bộ TTM. Nói tới thuỷ quân là nói tới hàng hải. Mà giáo sư hàng hải đầu tiên của chúng tôi là anh Nguyễn Văn Quế. Tháng 5/1951, Thuỷ quân (BTTM) giải tán, chúng tôi được cấp “Bằng tốt nghiệp” (giấy chứng nhận) trong đó có 4 câu: “Đã học hết lý thuyết Hàng hải đại cương”. Thực ra hồi đó, chúng tôi chưa học được gì nhiều. Hoàn cảnh, phương tiện và thời gian còn quá hạn chế. Nhưng “giáo sư” Quế đã chong chúng tôi một bài học trong buổi lên lớp đầu tiên mà chúng tôi ghi nhớ suốt “đời sông nước” của mình. Hôm đó, sau khi thầy trò làm quen nhau, anh bắt đầu giảng bài học hàng hải thứ nhất.
- Hàng hải (anh định nghĩa) nói nôm na là hành trình trên mặt biển. Ngắm mặt biển hiền hoà khi mặt trời mọc, quá đẹp! Quan sát đại dương yên ả dưới trăng thu, rất nên thơ. Nhưng dưới mặt nước có những gì, nào ai nhớ hết, biết hết? Và khi mặt nước nổi giận, nào ai lường hết, đo hết? Do vậy có thể nói, những người làm nghề sông nước là những người “sống ở dương gian mà làm việc ở âm phủ”.
Nghỉ một lúc, anh nhấn mạnh: - và cũng vì thế, không có ai đậu trạng nguyên về Hàng hải!
Hồi đó, thú thực, chúng tôi chưa nhận thức hết ý nghĩa thâm thuý của câu này, chỉ thấy hay về cách dùng từ ngữ trong văn chương để chứng minh rằng: Học Hàng hải không phải dễ! Nhưng, thưa các bạn, đã gần 30 năm xuôi ngược trên sông biển, với bao nhiêu va vấp tai nạn về tầu thuyền, càng ngày tôi càng thấm thía sâu chân lý của giáo sư Quế: “không có ai đậu trạng nguyên về Hàng hải”.
2. “Tôi phải học tiếng Nga”
Từ sau những năm 1956, 1957 tàu bè Liên Xô (cũ), cập cảng Hải Phòng ngày càng nhiều, chuyên gia Liên Xô đến Hải Phòng ngày càng đông. Vì không biết tiếng Nga nên trong giao dịch với thuyền viên và chuyên gia Liên Xô thường mất thời gian và gặp nhiều khó khăn do phải thông qua phiên dịch viên, việc đọc và nghiên cứu tài liệu của Liên Xô cũng hạn chế, anh Quế quyết định: Phải tự học tiếng Nga! Một hôm gặp tôi anh bảo: - Tớ phải học thêm tiếng Nga gấp.
- Ai dậy anh? Tôi hỏi.
- Mình tự học.
Tôi biết, anh nói là làm. Và 6 tháng sau, tôi đã thấy anh đọc được sách báo Liên Xô, và trực tiếp nói chuyện với chuyên gia Liên Xô.
Qua trò chuyện tìm hiểu, tôi được biết: Cả một quá trình công tác của anh là cả một quá trình tự học, tự nghiên cứu liên tục không ngừng. Anh thường thổ lộ: “Học ở nhà trường chỉ là cái vốn cơ bản. Phải biết dùng cái vốn ấy để “buôn bán” có lời lãi, phải tự học. Do tự học, trình độ chuyên môn của anh ngày càng phát triển cao. Anh đã viết sách, giảng dậy cho các lớp đào tạo cán bộ Hàng hải.
Qua huấn luyện và thực tập ở Nga về Hàng hải và Thiên văn (1966-1969) tôi đã từng làm quen với những “bảng tính độ cao và azimut (đo phương vị) của các thiên thể” của Mỹ, của Anh, của Nga (TBA-54, BC-58...). Về đến Việt Nam, tôi vô cùng khâm phục khi thấy anh Quế, sau năm 1957 cũng đã có “bảng tính độ cao và azimut của các thiên thể”, gọi tắt là”THH-57”(1). So với các bảng của Anh, Mỹ, Nga, sai số không đáng kể. Hồi đó đã làm gì có các máy tính như bây giờ. Thế mà với tinh thần quyết tâm và kiên nhẫn, anh đã cho ra bảng THH - 57 kịp thời phục vụ cho các tầu bè, các trường Hàng hải khi chưa có tài liệu nước ngoài. Cho đến những năm 1971 - 1972 tôi vẫn đến để nghe anh “huấn thị” về nghề nghiệp. Noi gương anh, chúng tôi cũng tự học không ngừng. Vì không có ai đậu trạng nguyên về Hàng hải nên phải học, học nữa, học mãi... Và đúng như học giả Nguyễn Hiến Lê đã viết tác phẩm: “Tự học, một nhu cầu của thời đại”(1).
Anh Nguyễn Văn Quế ! Xin anh hãy yên nghỉ. Đừng vương vấn bụi trần. Những điều mà anh hằng lưu tâm mong mỏi cũng là những vấn đề đang được Nhà nước ta tiếp tục đổi mới, cải tiến để đưa đất nước ta tiến lên kịp với thời đại, với trào lưu chung của thế giới. Lịch sử bao giờ cũng đi lên. Thế hệ con cháu chúng ta sẽ tiếp tục hoàn thành những công việc mà chúng ta chưa làm được.

London tháng 5 năm 1994
Hoàng Quốc Hùng
Để biết thêm về Hoàng Quốc Hùng,xin đọc bài viết sau đây
THUỶ QUÂN BỘ TỔNG THAM MƯU
NHIỀU KỶ NIỆM KHÓ QUÊN


Vâng! Rất nhiều kỷ niệm khó quên đối với cá nhân tôi. Thuỷ quân sông Lô, một đơn vị gồm đại đa số là học sinh trung học, cái đuôi “tạch tạch sè” khá dài, nhiều kỷ niệm vui, hồn nhiên và cả... ngây thơ nữa. Bây giờ, tuổi già bóng xế, nhiều đêm không ngủ được, nằm nhớ lại những kỷ niệm xưa mà cười một mình và cảm thấy tâm hồn có phần trẻ lại.
1. OH! Combien de Marins... (Ôi! Biết bao thuỷ thủ...)
Cuối năm 1950, Phố Giàn, gần sông Lô, nơi vẫn còn nồng mùi thuốc súng bắn đắm tầu chiến Pháp, từng đoàn trai “xếp bút nghiên theo việc binh, đao”, những học sinh sắp tốt nghiệp trung học phổ thông, mặt non choẹt, yêu đời phơi phới, từ Khu 4 kéo ra, từ Khu 3 kéo tới, từ Thái Nguyên đổ xuống, gặp nhau tay bắt mặt mừng. Dễ làm quen nhau, bởi vì, xin lỗi nhà thơ Hồng Nguyên:
Lũ chúng tôi
Bọn người tứ xứ
Gặp nhau hồi “đã” biết chữ...(1)
Bởi vì cùng chung chất “tạch tạch xè”, cùng biết hát “ngồi đây ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta...”(2), cùng biết ngâm “mơ về Hà Nội dáng kiều thơm”(3) hay “vắng bóng cô em từ dạo ấy, để buồn cho những khách sang sông...”(3).
Ổn định nơi ăn chốn ở xong, chúng tôi được chính thức phổ biến “học Thuỷ quân”. Thuỷ quân? Thuỷ quân gì mà ở nơi khỉ ho cò gáy thế này?
Cán bộ giải thích: “Kháng chiến nhất định thắng lợi. Trung ương chủ trương thành lập Thuỷ quân để vừa làm hạt nhân nghiên cứu phương hướng phát triển Thuỷ quân sau này, vừa có lực lượng để sẵn sàng tiếp thu vùng biển...”. Nghe cũng có lý, xuôi tai. Khi tư tưởng đã thông suốt thì các “lính thư sinh” bắt đầu mơ mộng:
Thuỷ quân! Giày trắng, quần trắng, áo trắng, mũ trắng có chóp bông đỏ (bonnet rouge). Đứng tựa lan can tàu sạch bóng. Nhìn mây, ngắm nước. Có tiểu thư nào mà không mê những chàng trai như thế, những chàng trai lấy biển cả làm quê hương, lấy sóng gió làm lẽ sống. Hãy đọc khe khẽ cho các tiểu thư nghe những vần thơ của Victor Hugo:
Oh! Combien de marins combien de capitaines
Qui sont partis joyeux pour des courses lointaines...(1)
Rồi chúng tôi ôm nhau hát, những bài hát vừa nghịch, vừa tếu, vừa vui của nhạc sĩ Tô Hải ở trường Lục quân Việt Nam:
Trường “Thuỷ” quân đang cần lính đánh Tây,
Tớ vội vàng bỏ nhà ra đi ngay
Bao công việc ấm ớ phó thác cho bu mày.
Rồi một hôm tới một vùng đồi núi
Không được văn minh lắm rất vắng bóng người,
Đoàn vệ trọc ôi thôi, từ bình minh đến tối
Xoay trần ra bạt núi cuốc đồi vác tre
Te tò te tí te...
Phải nói hồi đó, đời sống vật chất nghèo nàn thiếu thốn, nhưng đời sống tinh thần của những anh “lính cậu” Thuỷ quân rất đa dạng, phong phú.
2. Tôi bị phạt vì...
Vì gác vào phiên sáng mà không đánh thức trung đội trường Lương Anh dậy.
Vẫn đóng quân gần phố Giàn, trong nhà dân. Hôm đó tôi gác từ 3-5 giờ sáng. Theo quy định, lính gác vào phiên sáng phải gọi trung đội trưởng dậy. Tôi quên béng mất, để cho ông Anh mang tiếng “dậy muộn”. Chín giờ, bị gọi sang trung đội bộ. Tôi đứng nghiêm, dơ tay chào ông Anh.
- Thế nào, đồng chí gác vào phiên sáng? Ông Anh nghiêm nghị chất vấn tôi.
- Dạ đúng (Vẫn dạ theo kiểu gia đình)
- Sao không gọi tôi dậy?
- Dạ... quên!
Ông Anh chắp tay sau lưng đi vòng quanh tôi. Tôi run! Chắc chắn là bị phạt rồi, nhưng phạt kiểu gì đây?
- Quên hả - ông Anh chậm rãi nhấn mạnh - bây giờ tôi có cách làm cho đồng chí phải nhớ.
Tôi bị phạt đứng nghiêm một giờ, tay phải vác một quả mìn trên vai. Các bạn biết không? Mìn hồi đó to gần bằng quả dưa hấu, nặng lắm, được bọc trong một cái rọ đan bằng tre và có cán để vác. Tôi thuộc loại lính khoẻ, anh em vẫn gọi là “máy xúc Liên Xô”. Quãng 20 phút đầu, bình an vô sự, nhưng sau đó thì cáh tay phải cứ rã rời dần, mỏi dần... Chân đứng đúng kiểu “Hai hàng chân ngọc duỗi song song” cũng mỏi dần, mỏi dần... Tôi phải quan sát ông Anh liên tục để lợi dụng lúc “địch sơ hở”. Ông Anh không thể nhìn tôi chằm chằm mãi được. Cũng có lúc ông phải gặp người này, gặp người nọ hoặc viết lách. Thế là tôi khẩn trương cho tay trái lên tương trợ tay phải và tranh thủ cử động hai chân.
Đúng 1 giờ, tôi được giải phóng. Chào trung đội trưởng xong, quay đi, mồm tôi lẩm bẩm “Merci beaucoup” nhưng tôi cũng thấm thía rút ra được một bài học “phải nhớ mà chấp hành mọi quy định của cấp trên cho nghiêm túc”.
3. Ông Lê Trường Đa và... đi đều bước!
Ông Đa sau này là Giám Đốc Xưởng Hải Quân X 46 Hải Phòng Khả Lĩnh. Đóng quân trong nhà dân, trên ngọn đồi thoai thoải thấp. Từ đó xuống dốc để ra thao trường, một bãi đất bằng phẳng rộng rãi nối liền với một dòng sông bằng bãi cát mịn. Chúng tôi đang bị “quần” về đi đều. Tiểu đội đi đều. Trung đội đi đều. Rồi đại đội đi đều. Mắt nhìn thẳng. Ngực ưỡn ra. Chân đi đúng nhịp hô. Đến khổ: có những anh mang cố tật “chân nào tay ấy” bị ông Đa mang riêng ra “quần” cho mệt lử. Ông Đa, đại đội trưởng, da ngăm đen, to, cao, quắc thước. Nhìn ông đã thấy run rồi. Ông trực tiếp điều khiển luyện tập “đại đội đi đều”. Nắng như thiêu như đốt. Mồ hôi chảy vào mắt xót không chịu được, vẫn không dám nhúc nhích, áo ướt đẫm. Chân tay mỏi dừ tê dại. Miệng khát khô. Ông Đa vẫn “quần” liên tục. Tập chịu đựng gian khổ cho quen! Tiếng hô của ông vẫn “sắc” như kiếm. Ông cho cả đại đội đứng gần mép sông. Ông huấn thị: - Kỷ luật Quân đội là kỷ luật sắt, các đồng chí rõ chưa?
Rõ! Mồm chúng tôi đáp theo phản xạ tự nhiên nhưng chúng tôi đưa mắt nhìn nhau không hiểu đại đội trưởng giở trò gì đây?
Ông dõng dạc hỏi chúng tôi: - Toàn đại đội đi đều, xuống đến tận mép sông chưa hô đứng lại, các đồng chí có tiếp tục đi không?
Bị hỏi đột ngột, chúng tôi đứng ngớ ra. Vài anh trong hàng lẩm bẩm: - Sông thì đi làm sao?
Không ngờ ông nghe được. Giọng ông lên thêm một “ton” nữa, ông dằn từng tiếng: - Vẫn phải đi. Vẫn phải chấp hành tuyệt đối. Xuống sông cũng phải đi. Vào lửa cũng phải đi. Bao giờ cho đứng lại mới được đứng lại. Các đồng chí rõ chưa?
- Rõ!
- Bên phải... quay.
Cả đại đội thành hàng dọc. Trước mặt là dòng sông. Thôi, chết đuối cả lũ rồi.
- Đi đều... bước. Một hai... một hai...
Chúng tôi phải đi. Mấy người đi đầu đã mấp mé nước. Bỗng...
- Đứng lại... đứng!
- Đằng sau... quay!
- Đi đều... bước!
Lạy chúa. Anh nào anh nấy thở phào thoát chết!
Từ đó, chúng tôi được một bài học: kỷ luật Quân đội là kỷ luật sắt (très dure).
4. Hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa?
Đóng quân ở Nghinh Lạp. Vẫn đóng trong nhà dân.
Bấy giờ bọn chúng tôi thường hát xa hát gần hai câu cố để cho anh Ngoạn, trung đội phó của chúng tôi nghe:
Ai về Nghinh Lạp bên sông
Hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa
Anh Ngoạn, mặt đỏ như sôi gấc, phải bấm bụng mà lờ đi, không có lý do gì để bắt bẻ bọn lính cậu này được. Nguyên là ông chủ nhà trung đội tôi đóng quân có cô con gái, so với nhan sắc địa phương, cũng “mười phân vẹn mười”. Cô tên là Tú, đang “tuổi cập kê”, tường đông ong bướm đi về mặc ai! Anh Ngoạn ta để ý tìm hiểu rồi... tỏ tình. Bọn tôi bí mật điều tra theo dõi. Được biết: cô Tú không phản đối, nhưng cũng chưa hẳn cắn câu, vẫn lơ lửng con cá vàng. Và anh Ngoạn vẫn kiên nhẫn “tấn công” rất kín đáo.
Thế rồi: Ai về Nghinh Lạp bên sông
Hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa?
Đã đến tai cô Tú. Nghe câu ca dao, cô tủm tỉm cười nhìn chúng tôi. Chúng tôi đang đào tranchée (hầm) cũng ngấp nghé ngắm lại cô vừa “tỏ tình quân dân”, vừa tranh thủ “cải thiện đôi mắt” vì đã lâu ngày không có bóng dáng nữ sinh nào để chúng tôi “ngơ ngẩn trông vời áo tiểu thư!”.
Phải khiêm tốn mà tự hào rằng: lính Thuỷ quân sông Lô chúng tôi đi đến nơi nào, đóng quân ở đâu cũng giữ vững tác phong và đạo đức quân nhân, nhất là giữ được quan hệ rất tốt đẹp với phụ nữ, không bao giờ để xảy ra tai tiếng gì. Phải chăng xuất thân từ học sinh, có học, có hiểu biết?
Tháng 3/1994 vừa qua hành hương về thăm lại “vườn xưa chốn cũ” của Thuỷ quân sông Lô chúng tôi được biết cô Tú đã mất. Chuyện chồng con của cô chúng tôi cũng không tiện hỏi. Một nỗi buồn xâm nhập vào chúng tôi bởi “tình cá nước”. Có những người dân đã giúp đỡ bộ đội hết lòng, nay không còn nữa!
5. Chép cho tớ bài thơ hay!
Đóng quân Nghinh Lạp, những ngày chủ nhật, chúng tôi thường rủ nhau ra sông tắm. Không bao giờ chúng tôi chịu tắm dưới dòng các cô gái địa phương. Lúc nào cũng trên dòng. Các cô cũng không chịu. Và cứ thế mà tranh nhau.
Tắm xong, quây quần dưới ánh mặt trời chói chang, ngắm những làn mây xanh ngắt, trong những rừng cọ những bờ tre vi vu tiếng gió, nhìn những cánh đồng ngô non mơn mởn, trong lòng dào dạt, lời ca tiếng hát giọng ngâm cũng vút lên. Tôi thường ngâm bài thơ mà tôi thích nhất cho các bạn nghe:
Năm xưa em nữ sinh,
Mắt huyền lung linh,
Đu đưa mái tóc,
Tiếng guốc thanh bình.
Ta mơ ta hát hề nhan sắc,
Ta gọi thầm em gọi một mình.
Em là hương ngọt vườn trinh
Gió trăng kết bạn đa tình là ta.
Người thâm khuê kẻ xa nhà
Cầu duyên lỗi nhịp, thuyền hoa lỏng chèo...(1)
Không những các bạn đồng đội tôi nghe, mà các cô gái Nghinh Lạp ngồi dưới gió cũng nghe. Chắc các cô, trong đó có cô Tú, thương chúng tôi lắm. Cầu duyên đẹp thế mà phải lỗi nhịp. Thuyền hoa tươi thắm vậy đành nỡ lỏng chèo. “Các cô ơi, có ai bắc lại cầu, chèo lại thuyền được không?”.Các cô cười, đấm lưng nhau thùm thụp...
Không hiểu sao, anh Ngoạn, trung đội phó, biết được bài thơ này? Cô Tú mách chăng? Một hôm anh gặp tôi, thì thầm kín đáo: - H. ơi, chép cho tớ bài thơ Nữ sinh... ấy”.
- Thơ nào? Tôi giả vờ đánh trống lảng.
- Thôi, đừng gây khó khăn nữa. Thuận chép không?
Tất nhiên tôi sẵn sàng chép. Nhất cử lưỡng tiện: vừa được tiếng là giúp đỡ bề trên, vừa đỡ bị “đòn” sau này.
Thì ra, cấp chỉ huy, đứng trước hàng quân “miệng nhà quan có gang có thép”, nhưng ruột gan thì cũng giống như bọn lính chúng tôi.
6. Ông Triết ốm được cô Tú bồi dưỡng!
Ông Triết, trung đội trưởng của chúng tôi, ốm. Sốt. Nằm liệt giường.
Thư ký của ông ta, cậu Bùi Xuân Kiều, lo lắng chạy vạy thuốc thang cơm cháo. Kiều là bạn chí thân của tôi, quê Ninh Bình, người thấp nhỏ, nhưng nhanh nhẹn tháo vát. Kiều cũng như chúng tôi, biết chuyện kín đáo giữa cô Tú và ông Ngoạn. Qua Kiều, chúng tôi được biết: ông Triết cũng chả trách móc gì chuyện đó.
Nhưng - lại Nhưng nữa, trò đời là thế - tuyệt đối bí mật, Kiều rỉ tai tôi: - Tú nó mến tao. Tôi giật bắn người. Chuyện động trời! Sao lại dám chen vào với cấp chỉ huy, trung đội phó Ngoạn? Kiều thanh minh rất thực thà: tao đâu dám. Nhưng thỉnh thoảng thấy Tú nó cho tao bánh. Đang đói, tội gì không lấy. Mấy ngày hôm nay ông Triết ốm. Tao để dành bánh cho ông Triết. Ông ta vừa ăn vừa khen ngon, vừa hỏi bánh mua ở đâu. Tao phải tìm cách nói dối quanh co, chứ tiền đâu mà mua!
Tuần lễ sau, ông Triết đỡ, rồi khoẻ hẳn. Bọn tôi cứ nhìn ông Triết, rồi lại nhìn ông Ngoạn bấm nhau cười: ông Triết khoẻ, một phần nhờ bánh của cô Tú, mà ông Ngoạn đâu có biết. Nhưng chúng tôi vẫn trân trọng quý mến tấm lòng vàng của cô Tú đối với bộ đội. Quả thật “quân với dân như cá với nước”.
7. Báo động cá nhân
Để huấn luyện tinh thần cảnh giác, khẩn trương sẵn sàng chiến đấu, chúng tôi thường bị báo động ban đêm. Đang ngủ say, bỗng “toe”, còi rít lên. Tiếng trung đội trưởng: “báo động”. Thế là chúng tôi phải vùng dậy ngay. Tối đa sau 5 phút, ai nấy phải ra sân tập hợp: quân phục chỉnh tề, lưng mang ba lô đựng toàn bộ tài sản cá nhân như quần áo, chăn màn, sách vở, bát đũa bàn chải đánh răng... vai đeo súng hoặc cuốc xẻng được trang bị. Tập hợp xong, chạy lại chỗ. Chính những pha báo động này mà nhiều chuyện cười ra nước mắt. Có anh không kịp mặc quần dài. Có người không mũ. Có cậu cởi trần. Vì buộc không chặt, khi chạy, có đồng chí bát đũa rơi lủng ngủng. Tội to nhất là không tìm ra “vợ” mình (quên súng).
Trong trung đội tôi, anh Phan Ngọc Vạn thường chậm chạp nhất. Anh Vạn học cao hơn chúng tôi, người mập tròn, đi đứng thong dong, chất thư sinh chưa cải tạo được nhiều. Bỗng một đêm...
TOE! Báo động. Chúng tôi ngồi vùng dậy. Nhưng không. Tiếng trung đội trưởng tuyên bố: “Báo động riêng cá nhân đồng chí Vạn. Các đồng chí khác cứ tiếp tục ngủ”. Chúng tôi muốn phì cười mà không cười được. Trời! Lại có chuyện báo động cá nhân. Sáng tạo lạ! Tôi nằm nghe anh Vạn lục cục thu xếp để chạy ra sân. Vẫn chậm. Vẫn thiếu thứ này thứ khác. Vẫn nghe tiếng bát rơi. Nghĩ mà thương đồng đội.
Sau này phải công nhận rằng: cuộc sống quân ngũ đã rèn luyện chúng tôi có một tác phong khoa học, ngăn nắp, trật tự, khẩn trương, một ý chí kiến cường quyết tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Tháng 5 năm 1994
Hoàng Quốc Hùng

Gặp Capt Nhữ Cao Tài-đội tàu Giải Phóng

Nhữ Cao Tài sinh năm 1940 (theo anh nói),còn lý lịch khai năm 1/1941,quê quán Hà Nam,học sinh Trung Cấp Hàng Hải khóa 1.Là một trong người nhận chiếc tàu Giải Phóng đầu tiên và bàn giao chiếc cuối cùng cho Sovosco sau chiến tranh.Ngôi với Tài,nhớ lại chuyện ngày xưa tại ngôi nhà đẹp đẽ của con gái Tài,số nhà 92D22 khu dân cư Savimex Gò Ô Môi Phú Thuận Quận 7 vào buổi sáng ngày 27/07/09.


Tài cũng là người ưa tranh luận.Khi nhận tàu kéo từ Nhà Máy Đóng Tàu Bạch
Đằng vào năm 1984,anh đã có bài góp ý nêu những cái dở của con tàu này đăng trên Báo Nhân Dân khiến cơ quan thiết kế phải tìm gặp và tiếp thu.Thời gian làm hoa tiêu,anh có xuất hiện trên báo Người Lao Động năm 2005 với bài phỏng vấn của cô phóng viên Bích Hà :
...."Ông Nhữ Cao Tài, 66 tuổi, 13 năm trong nghề “đầu sóng, ngọn gió” này cho biết đa số anh em hoa tiêu khi bước vào nghề đều qua vài năm đi biển hoặc làm thuyền trưởng, đã tích lũy được ít nhiều kinh nghiệm. Với tính chất công việc phức tạp, đòi hỏi người hoa tiêu phải tập trung cao độ và không được rời khỏi buồng lái, giờ ăn cũng không được nghỉ cho nên nhiều người bảo đây là nghề “cơm bưng nước rót” tận miệng..."

60 NĂM SỰ KIỆN TÀU SÔNG LÔ

Tháng Tám nằm nay,tròn 60 năm sự kiện con tàu Sông Lô tự cháy nổ trên Vịnh Bắc Bộ.Chúng ta thử tìm hiểu sự kiện này và gặp các nhân chứng còn sống:thuyền trưởng Nguyễn Văn Hóa,thợ máy Trần Hữu Thức.chúng tôi cũng cố gắng liên lạc với mạng Net Marine của Hải Quân Pháp và thự viện CAOM tại Aix-de -Provence để tìm hiểu phía bên kia,nhất là quan ba tình báo Faravel,người đã hỏi cung Hóa,Thức...nhưng chưa có kết quả

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2009

Gặp Capt Nguyễn Ngọc Tuyền-đội tàu Giải Phóng

Nguyễn Ngọc Tuyền sinh năm 1940,quê Mỹ Văn Hưng Yên .Tốt nghiệp khóa Trung Cấp Hàng Hải thứ hai (1959-1961) và bắt đầu thủy nghiệp trên tàu Đoàn Kết .Thành viên Đội tàu Giải Phóng,thuyền trưởng chiếc GP-16.Sau chiến tranh,đi trên tàu Aquamarine...Hiện ngụ tại 302 Huỳnh Tấn Phát Quận 7.điện thoại 08-38720963


Một đoạn clip Tuyến kể lại tàu GP-16 vượt bãi lôi để đưa gạo vào Cẩm Phả :

Trong những ngày chiến tranh gian khổ,có một sức mạnh tinh thần nào luôn động viên những người không mặc áo lính này luôn xông ra trận ?Những cuốn nhật ký và cả tập thơ tự sáng tác trong bom đạn với vần thơ "Đời thủy thủ" là những tài sản vô giá