Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

ASEF và đóng tàu Việt Nam


Từ ngày 22 tới ngày 24 tháng Mười Một năm 2015, đoàn đại biểu các chuyên gia đóng tàu nước ta dã tham dự hội nghị thành lập Hiệp hội các chuyên gia đóng tàu châu Á  ASEF, tên viết tắt cùa Asian Shipbuilding Expert Federation. Đây là kết quả của những cố gắng bền bỉ suốt 8 năm qua ,khởi đầu là những nhà đóng tàu Nhật Bản.   

Khu vực Hải quân tại thủ đô Washingotn được khóa chặt sau khi có nổ súng !



Theo thông tin từ CNN vài phút trước đây ,toàn bộ khu vực căn cứ Hải Quân (Navy Yard) tại thủ đô Washington đã được khóa chặt sau khi có vụ nổ súng vào sáng sớm ngày thứ năm 2/7/2015 tức là tối nay theo giờ Việt Nam .Khu vực này với mình khá quen thuộc vì mỗi lần tới thủ đô Mỹ mình đều ghé vào đây .Đó là căn cứ Hải quân cổ xưa nhất nước Mỹ ,hiện nay có Bảo tàng Hải quân , Bộ phận nghiên cứu Hải quân cho người có giấ ytờ được vào xem và đọc sách .Chính tại đây ,mình được xem các tài liệu về Hải quân Mỹ tham gia Chiến tranh Lạnh ra sao và đặc biệt được họ cho cuốn sách kể về cuộc phá lôi của Hải quân Mỹ tại Hải Phòng năm 1973 .Bây giờ đây vẫn là căn cứ của Bộ chỉ huy Hải quân Mỹ nằm sâu phía trong còn Bảo tàng nằm sát ngoài đường .Vào Bảo tàng ,được soát passport khá kỹ .Mới có súng nổ,chưa thấy có người chết hay bị thương mà đã trong tình trạng báo động,với máy bay trực thăng tuần tra trên bầu trời .Chả là vào tháng 9 năm 2013 ,tại đây cũng đã xảy ra một vụ nổ súng .Một công nhân thuê làm theo hợp đồng tên là Aaron Alexis đã xả súng bắn chết 12 công nhân (không phải là lính ) đang làm việc trong tòa nhà số 197 của căn cứ ,sau đó hắn đã bị cảnh sát bắn chết .
Tháng 12/2016 , cùng vợ và cháu Giang tìm tới Bảo tàng nhưng hôm đó đóng cửa !!!

GBS Tiêu chuẩn đóng tàu dựa theo mục tiêu

Hệ thống luật lệ đóng tàu ngày càng phức tạp, nhiều thuật ngữ mới hình thành .Hôm nay chúng ta thử bàn một thuật ngữ mới , đó là GBS .
1 GBS là gì ?
GBS viết tắt các chữ Goal-based Standard được VR gọi là Tiêu chuẩn đóng tàu dựa trên mục tiêu .Chúng ta thử tìm hiểu xem các ngôn ngữ khác nhau họ gọi GBS thế nào.Người Trung Quốc gọi là 
基于目标的船舶建造标准 hoặc 目标型新船建造标准 đúng với cách gọi tiếng Việt với 目标 (mùbiāo ) chính là mục tiêu .Người Nga gọi GBS là 
Tổ chức Hàng hải quốc tế chuẩn bị thẩm tra Tiêu chuẩn đóng tàu dựa trên mục tiêu
(Ngày đưa tin: 06/01/2014)
Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) đang chuẩn bị thành lập nhóm đánh giá để thẩm tra quy phạm đóng tàu chở hàng rời và tàu chở dầu của các tổ chức đăng kiểm đệ trình. Thời hạn cuối cùng để các tổ chức đăng kiểm gửi yêu cầu liên quan đến việc thẩm tra này đến IMO là ngày 31 tháng 12 năm 2013.
Quy định II-1/3-10 mới về Tiêu chuẩn đóng tàu dựa trên mục tiêu (Goal-based Ship Construction Standards - GBS) của Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển (SOLAS) đã được Ủy ban An toàn hàng hải (MSC) của IMO thông qua tại khóa họp thứ 87, tháng 05 năm 2010, bằng Nghị quyết MSC.290(87). Quy định II-1/3-10 của Công ước SOLAS, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012, yêu cầu tất cả các tàu chở hàng rời và tàu chở dầu có chiều dài từ 150 mét trở lên, được đóng từ ngày 01 tháng 07 năm 2016, phải thỏa mãn các quy định về kết cấu thân tàu phù hợp với yêu cầu chức năng của Tiêu chuẩn đóng tàu dựa trên mục tiêu áp dụng cho tàu chở dầu và tàu chở hàng rời (Tiêu chuẩn GBS) theo Nghị quyết MSC.287(87) của MSC.
Theo Tiêu chuẩn GBS, IMO sẽ tiến hành việc thẩm tra quy phạm đóng tàu chở hàng rời và tàu chở dầu của các tổ chức đăng kiểm hoặc chính quyền hàng hải, dựa trên Hướng dẫn thẩm tra sự phù hợp với Tiêu chuẩn đóng tàu dựa trên mục tiêu áp dụng cho tàu chở dầu và tàu chở hàng rời (Hướng dẫn GBS) được MSC thông qua bởi Nghị quyết MSC.296(87). Theo kế hoạch đã được MSC phê chuẩn tại khóa họp thứ 87, thời hạn cuối cùng mà các tổ chức đăng kiểm hoặc chính quyền hàng hải phải trình văn bản đề nghị cho việc thẩm tra lần đầu tiên là ngày 31 tháng 12 năm 2013.
Hưởng ứng đề nghị của MSC nhằm đảm bảo quá trình thẩm tra được thực hiện một cách hiệu quả nhất, Hiệp hội các tổ chức đăng kiểm quốc tế (IACS) đã chuyển giao cho IMO gói yêu cầu chung số 1 bao gồm yêu cầu thẩm tra của các tổ chức đăng kiểm thành viên hiệp hội này.
Căn cứ vào yêu cầu đánh giá thẩm tra, Tổng thư ký IMO sẽ thành lập Nhóm đánh giá GBS trong thời gian sớm nhất, để tiến hành việc đánh giá nhằm mục đích thẩm tra các quy phạm đóng tàu được đệ trình. Kết quả đánh giá sẽ được báo cáo lên MSC trong tháng 05 năm 2016 là thời hạn chót. Nếu được MSC phê chuẩn, các quy phạm đóng tàu đã được đánh giá thỏa mãn sẽ được áp dụng cho các tàu chở dầu và tàu chở hàng rời đóng từ ngày 01 tháng 07 năm 2016.
Ngày 20 tháng 12 năm 2013, Tổng Thư ký IMO, ông Koji Sekimizu, đã gặp Chủ tịch IACS, ông Roberto Cazzulo - đồng thời là Chủ tịch Tổ chức Đăng kiểm Italy (RINA). Tại cuộc họp này, Chủ tịch IACS xác nhận với Tổng Thư ký IMO là hiệp hội đã thông qua Quy phạm kết cấu chung hài hòa mới đối với tàu chở dầu và tàu chở hàng rời. Bộ Quy phạm này sẽ được trình lên IMO trong gói yêu cầu chung số 2 vào tháng 04 năm 2014 để phục vụ cho việc thẩm tra theo Tiêu chuẩn GBS. Tổng Thư ký IMO đã bày tỏ sự hài lòng với quá trình xây dựng và chuẩn bị thẩm tra Tiêu chuẩn GBS theo hướng dẫn của MSC.
IACS công bố dự thảo Quy phạm kết cấu chung hài hòa sử dụng cho tàu chở dầu và tàu chở hàng rời
(Ngày đưa tin: 02/08/2012)
Trong tháng 7/2012, Hiệp hội các tổ chức phân cấp tàu quốc tế (IACS) đã công bố dự thảo Quy phạm kết cấu chung hài hòa (Harmonised Common Structural Rules) sử dụng cho tàu chở dầu và tàu chở hàng rời để xin ý kiến đóng góp của các bên liên quan trên toàn thế giới.
Thời gian tiếp nhận ý kiến đóng góp kết thúc vào cuối năm nay.
Quy phạm kết cấu chung (Common Structural Rules - CSR) sử dụng cho tàu chở dầu vỏ kép và tàu chở hàng rời đã được Hội đồng IACS thông qua trong tháng 12 năm 2005 và có hiệu lực áp dụng từ tháng 04 năm 2006. Hai bộ quy phạm CSR, một dùng cho tàu chở dầu và một dùng cho tàu chở hàng rời, đã được xây dựng một cách độc lập; do đó, có một số khác biệt trong cách tiếp cận kỹ thuật được chấp nhận đối với một số nguyên lý cơ sở của quy phạm. Để loại bỏ các khác biệt đó và đạt được sự đồng nhất, IACS đã đưa ra cam kết về việc làm hài hòa hai bộ quy phạm CSR và công việc này đã được tiến hành từ năm 2008.
Dự án hài hòa quy phạm CSR cũng nhằm mục đích đạt được sự tuân thủ đầy đủ với Tiêu chuẩn đóng tàu dựa trên mục tiêu (Goal Based Standards - GBS) của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) sẽ có hiệu lực từ năm 2016. Với mục đích này, dự thảo lần một Quy phạm kết cấu chung hài hòa và các cơ sở kỹ thuật của quy phạm được xây dựng phù hợp với Tiêu chuẩn GBS của IMO; các yêu cầu chức năng của GBS được bao hàm trong phạm vi áp dụng của dự thảo quy phạm này.
Dự thảo Quy phạm là một bộ quy phạm duy nhất bao gồm các yêu cầu chung hài hòa áp dụng cho cả tàu chở dầu và tàu chở hàng rời, cùng với các phần cụ thể đưa ra các yêu cầu bổ sung áp dụng cho mỗi kiểu tàu.
Việc làm hài hòa quy phạm CSR liên quan đến các công việc kỹ thuật, thử nghiệm và hiệu chỉnh hết sức lớn, và giờ đây là thời gian để ngành công nghiệp hàng hải và các bên liên quan xem xét dự thảo quy phạm để đưa ra nhận xét, ý kiến đóng góp.
Trên cơ sở các ý kiến đóng góp nhận được, IACS tiếp tục hoàn thiện dự thảo Quy phạm kết cấu chung hài hòa và công bố dự thảo này để tiếp tục xin ý kiến đóng góp của các bên liên quan trong mùa xuân năm 2013. Tiếp theo, Ủy ban kỹ thuật của IACS sẽ xem xét dự thảo trong mùa thu năm 2013 để trình lên Hội đồng IACS thông qua vào tháng 12 năm 2013.
Để phục vụ cho công việc nêu trên, IACS đã lập mục "Knowledge Centre" (KC) trên website của tổ chức. Các câu hỏi, nhận xét và ý kiến đóng góp liên quan đến Quy phạm kết cấu chung hài hòa sẽ được đăng tải tại mục này. Ngoài việc tạo ra sự hỗ trợ trong quá trình đóng góp ý kiến đối với Quy phạm kết cấu chung hài hòa, "KC" còn đóng vai trò là nơi lưu trữ kiến thức, kinh nghiệm, hướng dẫn cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và duy trì quy phạm này trong tương lai. Điều đó sẽ rất có ích cho việc áp dụng một cách đồng nhất và phù hợp Quy phạm kết cấu chung hài hòa khi được xây dựng hoàn chỉnh. Các bên liên quan có thể truy cập "KC" tại địa chỉ: http://iacs-csrkc.org.uk TS. Trần Bảo Ngọc Phó Vụ trưởng Vụ TCCB – Bộ GTVT

Ngày 20/01/2014, tại trụ sở của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (Luân Đôn – Vương quốc Anh), Tổng thư ký IMO Koji Sekimizu đã có bài phát biểu nhân dịp năm mới, chỉ ra những mục tiêu, thách thức và các ưu tiên của Tổ chức Hàng hải Quốc tế trong năm nay. Cũng tại đây, diễn ra lễ khai mạc cuộc họp thứ nhất của Tiểu ban Thiết kế và Đóng tàu năm 2014.

Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Công – Trưởng đoàn Đại biểu của Viêt Nam và các Thành viên của Đoàn tại Phiên họp Thường kỳ của Đại hội đồng Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) lần thứ 28 (tháng 12 năm 2013) 
Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Công – Trưởng đoàn Đại biểu của Viêt Nam và các Thành viên của Đoàn tại Phiên họp Thường kỳ của Đại hội đồng Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) lần thứ 28 (tháng 12 năm 2013)
Phát biểu tại cuộc họp thứ nhất của Tiểu ban Thiết kế và Đóng tàu mới được thành lập, ông Sekimizu cho biết, giai đoạn này sẽ được nhớ tới như một giai đoạn đầy thách thức trong lịch sử của IMO.

Ông nhắc lại những cam kết của ông về những mục tiêu đã tuyên bố trước đây về loại trừ cướp biển và tai nạn hàng hải. Ông cũng hy vọng về những tiến bộ hơn nữa trong Chiến dịch Không tai nạn mà Tổ chức này đã phát động năm ngoái trong phối hợp với IALA (Hiệp hội các cơ quan quản lý hải đăng quốc tế) và cam kết sẽ cố gắng hơn nữa trong thực hiện Bộ Quy tác ứng xử Djibouti với các tổ chức đối tác của IMO.

Trong bối làn sóng mạnh của người di trú và tị nạn, ông Sekimizu tuyên bố, trong sự hợp tác với các tổ chức liên quan như Cao ủy Liên Hiệp quốc về người tị nạn, ông sẽ tự tìm ra những cách thức mới để giúp ngăn chặn việc chuyên chở nhiều người trên biển bằng các tàu nhỏ không tuân thủ các quy định an toàn quốc tế của IMO.

Ông Sekimizu gợi nhớ lại việc, ông đã phát biểu vào đúng dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày thông qua Công ước đầu tiên về An toàn sinh mạng trên biển (SOLAS), như là một sự phản ứng trực tiếp với tai nạn chìm tàu Titanic năm 1912. Ông nhắc lại vụ mắc cạn của tàu Costa Concordia mới chỉ 2 năm trước đây và cho rằng những bài học cần phải được nghiên cứu từ bản báo cáo điều tra tai nạn đó. Trong một thông điệp rõ ràng gửi tới các đại biểu và ngành công nghiệp hàng hải, ông đặt ra câu hỏi: “Liệu chúng ta có đang làm tốt hơn các thế hệ đi trước trong sứ mạng tăng cường sự an toàn của các tàu khách?”. Trong ngữ cảnh đó, ông kỳ vọng vào cuộc thảo luận tại phiên họp năm nay của Ủy ban An toàn Hàng hải về an toàn tàu khách lớn, bao trùm tất cả các nội dung gồm thiết kế, ổn định khi đâm va, khai thác và quản lý.

Ông Sekimizu cũng yêu cầu có một cuộc điều tra gấp những hỏng hóc về kết cấu và tổn thất toàn bộ cuối cùng của tàu Container MOL Comfort ở Ấn độ dương, năm ngoái. Ông nhận thấy có nguyên nhân đặc biệt cần quan tâm vì đây là chiếc tàu tương đối mới.
Thêm vào đó, ông Sekimizu nhắc lại lới đề nghị của ông năm ngoái, tại Hội nghị chuyên đề An toàn tàu biển trong tương lai, về những nỗ lực bắt đầu phát triển một “khái niệm mới” về an toàn tàu biển. Ông nói, điều này sẽ được chính thức đưa vào Công ước SOLAS mới sẽ thông qua vào năm 2024, đánh dấu 50 năm kể từ khi Công ước SOLAS hiện hành được thông qua – SOLAS 1974. Ông Sekimizu thúc giục các Chính phủ thành viên IMO và ngành công nghiệp hàng hải đưa ra các tham luận cho chủ đề để thảo luận vào phiên họp tới của Ủy ban An toàn Hàng hải.
Các vấn đề ưu tiên khác cho nhiệm kỳ 2 năm này được ông Sekimizu nhấn mạnh bao gồm:

- Đưa ra cấu trúc hiệu quả của Tiểu ban IMO mới thành lập;

- Chuẩn bị cho Kế hoạch đánh giá bắt buộc của các quốc gia thành viên của Tổ chức Hàng hải Quốc tế IMO;

- Thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn GBS cho đóng mới tàu dầu và tàu chở hàng rời;

- Thông qua bộ luật hàng hải bắt buộc vùng địa cực trong năm 2014;

- Chuyển giao Bộ Quy tắc ứng xử Djibouti cho các quốc gia đã ký kết và thiết lập một dự án tương tự cho vùng vịnh Guinea;

- Thực thi đầy đủ bộ chỉ số thiết kế năng lượng hiệu quả của IMO;

- Xem xét các tiêu chuẩn có hiệu lực của Công ước nước Ballast trong năm nay để Công ước có thể được thực thi đầy đủ vào cuối nhiệm kỳ 2 năm này;

- Đẩy mạnh nghiên cứu về khả năng sẵn sàng của nhiên liệu ít lưu huỳnh có thể dùng vào năm 2020 để giúp giảm lượng khí thải có lưu huỳnh từ tàu biển trên toàn cầu;

Ngài Sekimizu cam kết sẽ tiếp tục các nố lực xem xét, cải tổ để đảm bảo hiệu quả hơn nữa công việc của Văn phòng Tổng thư ký IMO.

Tìm hiểu về PPC


Vừa qua đã có một số trang thảo luận về PPC , đi đầu là trang Vimaso

1/ Chữ PPC có nghĩa là gì ?

PPC viết tắt bởi các chữ Anh PolyPropylene Copolymer , hiểu nôm na là động thái copolymer tức copolymerization ( chữ Hán là 共聚物 Gòngjù wù -cộng tụ vật) là công việc cộng tụ lại , thống nhất lại hai hay nhiều monomer (đơn thể) lại thành một polymer (đa thể ) . Còn PolyPropylene là một vật liệu đã quen thuộc với chúng ta với các loại dây PP buộc tàu ,các sản phẩm PP.Không đi sâu vào rừng các kiến thức hóa học,chúng tôi nhấn mạnh thêm chữ cộng tụ là một cái mới vì nó thêm vào trước chữ polymer (trùng hợp ) mà ta quen dùng

2/ PPC hiện nay được sản xuất tại đâu ?

Có thể kể tên một số nhà sản xuất như Sterling Plastic Inc Hoa Kỳ (

375 Apollo Drive, Lino Lakes, MN 55014

315 Apollo Drive ,Lino Lakes , MN 55014)



Bộ trưởng Bộ KHCN Nguyễn Quân, Đại biểu Lê Thị Công, Đoàn ĐBQH tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cho biết, báo cáo của Bộ KHCN đã nêu nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ nhưng hầu như chỉ trên văn bản.


“Bà Rịa – Vũng Tàu có một doanh nghiệp công nghệ sản xuất tàu thuyền bằng công nghệ tiên tiến, bằng vật liệu mới PPC, sản phẩm đạt Cúp vàng Techmart năm 2012 do Bộ KHCN tặng, được đăng kiểm quốc tế và đăng kiểm hải quan và hải quân công nhận. Doanh nghiệp đã cung cấp cho quân đội hơn 10 tàu nhưng Cục Đăng kiểm Việt Nam lại từ chối làm cho sản xuất của doanh nghiệp đình đốn, phải làm đơn gửi Thủ tướng”, Đại biểu Lê Thị Công cho biết và đề nghị Bộ KH&CN làm rõ vụ việc này.

Trao đổi về điều này, Bộ trưởng Nguyễn Quân cho biết, đúng là tại Bà Rịa - Vũng Tàu có doanh nghiệp sản xuất tàu bằng vật liệu PPC, đăng kiểm của Cộng hòa Séc và đăng kiểm của hải quân chấp nhận đăng kiểm nhưng đăng kiểm của Bộ GTVT lại không chấp nhận đăng kiểm.


Trên báo Lao Động 

“Việc này sẽ được Bộ KHCN trao đổi với Bộ GTVT làm rõ lý do. Tôi cũng được biết câu chuyện phía sau của vụ việc này là, sản phẩm tàu của doanh nghiệp đã được chứng nhận là sản phẩm công nghệ cao, doanh nghiệp đã bán cho hải quân nhưng sau đó có gây tai nạn xảy ra chết người nên doanh nghiệp bị truy tố”, Bộ trưởng Nguyễn Quân cho biết.

Trước vấn đề này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng làm rõ lý do vì sao tàu của doanh nghiệp lại không được đăng kiểm.

Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết, hiện nay các văn bản quy phạm pháp luật không cấm việc đóng tàu bằng vật liệu mới nói chung, trong đó có vật liệu PPC. Tuy nhiên, hiện nay theo Bộ KHCN, Việt Nam chưa có Tiêu chuẩn quốc gia cho tàu, thuyền làm bằng vật liệu PPC và hiện cũng chưa tìm thấy Tiêu chuẩn quốc gia nước ngoài hay văn bản quy phạm pháp luật của nước ngoài quy định cho loại tàu làm bằng vật liệu mới PPC.

“Để tiến hành đăng kiểm cho các loại tàu này thì cần phải xây dựng Bộ Quy chuẩn quy phạm mới cho việc đóng tàu bằng vật liệu PPC. Hiện Bộ GTVT đang phối hợp triển khai cùng với các đơn vị đóng tàu này xây dựng bộ quy chuẩn quy phạm làm căn cứ để đăng kiểm thử nghiệm”, Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết.

Cũng theo Bộ trưởng Đinh La Thăng, để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp đóng tàu, Bộ GTVT cũng đã thống nhất với một công ty đóng tàu bằng vật liệu PPC cho đóng và thử nghiệm 2 con tàu mới để tiến hành đăng kiểm thử nghiệm. Hiện một con tàu đã hoàn thành, chỉ còn chờ thí nghiệm tại Bộ Xây dựng về vật liệu chống cháy, dự kiến đến 18/6 này sẽ có kết quả. Căn cứ vào kết quả này, Cục Đăng kiểm Việt Nam sẽ cấp đăng kiểm cho con tàu này.

“Việc đóng tàu bằng vật liệu mới rất được hoan nghênh nhưng phải được đăng kiểm trên cơ sở quy chuẩn quy phạm của Việt Nam. Sau khi thử nghiệm hoàn tất, trong tháng 6 này sẽ giải quyết được căn bản tình trạng đại biểu quốc hội đã nêu”, Bộ trưởng Đinh La Thăng nói.

Bộ trưởng Đinh La Thăng cũng nói rõ: Bộ GTVT đã và đang xây dựng bộ quy chuẩn quy phạm theo yêu cầu của Bộ KH&CN đúng theo quy định hiện hành. Để xây dựng được phải căn cứ vào điều kiện thực tế, phải có đơn vị sản xuất. Tuy nhiên, hiện Việt Nam chưa có đơn vị nào đóng tàu thuyền bằng vật liệu này nên Bộ GTVT phải dựa vào chính đơn vị đang sản xuất tàu vật liệu PPC để vừa thử nghiệm sản xuất, vừa thử nghiệm đăng kiểm, đồng thời cũng để xây dựng bộ quy chuẩn quy phạm làm căn cứ để thực hiện lâu dài.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng, đây là cách làm thận trọng, Bộ trưởng hai bộ đã nhất trí sẽ có bộ quy chuẩn. “Tàu ra khơi hay tàu đi đường sông cũng đều phải đảm bảo an toàn do vậy các đồng chí Bộ trưởng đã biết và đã hứa sẽ giải quyết sớm”, Chủ tịch Quốc hội nói./.
Liên quan đến việc một doanh nghiệp đóng tàu bằng vật liệu mới PPC nhưng không được Bộ Giao thông chấp nhận đăng kiểm mà đại biểu Lê Thị Công hỏi tại phiên chất vấn chiều 12.6, Bộ trưởng Đinh La Thăng cho rằng chưa có quy chuẩn cho tàu làm bằng vật liệu PPC nên không thể cấp đăng kiểm.
Đại biểu Lê Thị Công (Bà Rịa - Vũng Tàu) chất vấn, báo cáo của Bộ đã nêu nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, nhưng hầu như chỉ trên văn bản. Bà Rịa -Vũng Tàu có một doanh nghiệp công nghệ sản xuất tàu thuyền bằng công nghệ tiên tiến, bằng vật liệu mới PPC, sản phẩm đạt cúp vàng năm 2012 do Bộ Khoa học và Công nghệ tặng, được đăng kiểm quốc tế và đăng kiểm hải quan công nhận, đã cung cấp cho quân đội hơn 10 tàu. Nhưng Cục đăng kiểm Việt Nam lại từ chối, làm cho sản xuất của doanh nghiệp đình đốn, phải làm đơn gửi Thủ tướng. Trách nhiệm của Bộ như thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, nhất là sự phối hợp của Bộ và các bộ liên quan?
Về vấn đề này, Bộ trưởng Nguyễn Quân cho hay: Theo ý kiến của đại biểu Lê Thị Công, doanh nghiệp làm tàu composit, đăng kiểm của Cộng hòa Czech và đăng kiểm của hải quân, nhưng Bộ Giao thông vận tải không chấp nhận đăng kiểm. Việc này chúng tôi sẽ trao đổi lại với Bộ Giao thông vận tải, xem lý do vì sao Bộ Giao thông vận tải không chấp nhận đăng kiểm. Tôi được biết câu chuyện phía sau của vụ việc này, đó là sản phẩm đó được chứng nhận là sản phẩm công nghệ cao. Doanh nghiệp đã bán cho hải quân, nhưng sau đó gây tai nạn chết người, nên doanh nghiệp bị truy tố. Chúng tôi sẽ tìm hiểu vấn đề này và báo cáo lại với đại biểu Quốc hội.
Hiện nay Bộ Giao thông vận tải đang triển khai phối hợp cũng với các đơn vị đóng tàu để xây dựng bộ quy chuẩn quy phạm, làm căn cứ để đăng kiểm.

Tuy nhiên để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Bộ Giao thông vận tải đã thống nhất với công ty đang đóng tàu bằng vật liệu PPC này cho thử nghiệm 2 con tàu và tiến hành đăng kiểm thử nghiệm luôn. Hiện nay tàu Ferri 42 thử nghiệm đã xong, hiện nay chỉ còn chờ thí nghiệm về vật liệu chống cháy, dự kiến 18.6 sẽ có kết quả, dựa vào kết quả này thì Cục đăng kiểm sẽ cấp đăng kiểm cho con tàu này. Còn tàu Ferri 56 tiếp tục hoàn thiện, chưa hoàn thiện xong thì chưa thể cấp.

“Việc đóng tàu bằng vật liệu mới thì hoan nghênh. Tuy nhiên phải được đăng kiểm trên cơ sở quy chuẩn, quy phạm. Trong tháng 6 này cơ bản sẽ giải quyết được toàn bộ vấn đề như đại biểu Lê Thị Công nói đối với các doanh nghiệp đóng tàu bằng vật liệu PPC” – bộ trưởng Thăng nói.

Bộ trưởng Thăng cũng cho biết: Vấn đề đăng kiểm thử nghiệm thì tháng 6 này xong, còn về lâu dài thì Bộ đã xây dựng bộ quy chuẩn, để xây dựng được phải căn cứ vào điều kiện thực tế, phải có đơn vị sản xuất, còn ở Việt Nam chưa có đơn vị nào làm bằng vật liệu này, dựa vào đơn vị đó vừa thử nghiệm sản xuất, vừa thử nghiệm đăng kiểm đồng thời cũng là để xây dựng bộ quy chuẩn, quy phạm luôn, làm căn cứ lâu dài.

Tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói việc này làm rất thận trọng. Hai Bộ trưởng đã nhất trí sẽ có quy chuẩn, quy phạm, vừa sản xuất vừa kiểm tra và sẽ sớm giải quyết vấn đề này. “Các Bộ trưởng đã biết và hứa sẽ giải quyết trong thời gian tới” – Chủ tịch Quốc hội nói.

Sự việc về tàu công nghệ mới PPC mà đại biểu Lê Thị Công chất vấn liên quan đến vụ tai nạn chìm tàu trên biển Cần Giờ khiến 9 người chết. Sau đó Cơ quan CSĐT - Công an TPHCM ngày 17.9 đã hoàn tất kết luận điều tra, chuyển VKS cùng cấp đề nghị truy tố ông Vũ Văn Đảo (46 tuổi, GĐ Cty cổ phần công nghệ Việt Séc - trụ sở tại TP Vũng Tàu, cổ đông sáng lập Công ty cổ phần Vũng Tàu Marina) và Đinh Văn Quyết (34 tuổi, GĐ Cty cổ phần Vũng Tàu Marina) cùng về tội "Đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thủy không bảo đảm an toàn".

Đến đầu tháng 5.2015, TAND TPHCM đã quyết định trả hồ sơ, điều tra bổ sung một số vấn đề trong vụ chìm tàu ở huyện Cần Giờ, TPHCM xảy ra vào tháng 8.2013.

Theo điều tra của báo Lao Động: Cty CP Công nghệ Việt - Séc do ông Vũ Văn Đảo làm giám đốc được thành lập ngày 6.4.2012 theo Giấy chứng nhận đăng ký số 3502101335 của Sở KHĐT Bà Rịa - Vũng Tàu cấp, chuyên sản xuất tàu thuyền bằng công nghệ và vật liệu mới Polypropylen - Poslystone Copolyme (PPC).

Cty Việt - Séc đã sản xuất tàu BP 12-04-02 bằng công nghệ vật liệu PPC và cung cấp cho bộ đội Biên phòng Bà Rịa - Vũng Tàu. Căn cứ theo luật, việc đăng kiểm phương tiện của quốc phòng thuộc thẩm quyền của Bộ Quốc phòng. Ngày 16.7.2013, tàu này đã được Phòng Đăng kiểm Hải quân, Bộ Tư lệnh Hải quân đăng kiểm và cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật với ký hiệu ghi trong giấy đăng kiểm là BP 12-04-02 (tàu H29).

Vậy Viện Kiểm sát nhân dân TPHCM và công an TPHCM sẽ “đào” đâu ra kết luận giám định tàu ký hiệu BP 12-04-02 không bảo đảm an toàn khi đưa vào sử dụng?!


Tại phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân sáng 12/6, đại biểu Lê Thị Công (đoàn Bà Rịa - Vũng Tàu) phản ánh: “Bà Rịa - Vũng Tàu có DN sản xuất tàu thuyền bằng công nghệ tiên tiến, vật liệu mới PPC. Sản phẩm đã đoạt Cup vàng Techmart 2012 do Bộ KH&CN tặng, được Đăng kiểm quốc tế và Đăng kiểm Hải quân công nhận đảm bảo chất lượng.
DN đã cung cấp cho quân đội hơn 10 tàu thuyền nhưng Cục Đăng kiểm VN lại từ chối đăng kiểm làm cho sản xuất của DN đình đốn. DN phải làm đơn gửi Thủ tướng Chính phủ”.
Trả lời đại biểu Lê Thị Công, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân xác nhận: “Đúng là tại Bà Rịa - Vũng Tàu có DN sản xuất tàu bằng vật liệu PPC, Đăng kiểm của CH Séc và Đăng kiểm Hải quân chấp nhận đăng kiểm nhưng Đăng kiểm của Bộ GTVT lại không chấp nhận đăng kiểm. Việc này sẽ được Bộ KH&CN trao đổi với Bộ GTVT làm rõ lý do. Tôi cũng được biết câu chuyện phía sau của vụ việc này là sản phẩm tàu của DN đã được chứng nhận là sản phẩm công nghệ cao, DN đã bán cho hải quân nhưng sau đó có gây tai nạn xảy ra chết người nên giám đốc DN bị truy tố”.


Ngay chiều 12/6, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã tham gia trả lời và hứa với Quốc hội là ngay trong tháng 6/2015, Bộ sẽ cho đăng kiểm tàu thuyền đóng bằng công nghệ vật liệu mới PPC.
Theo tin tức tìm hiểu của PV Báo Lao Động và Đời sống, ngày 18/5, Cty CP công nghệ Việt - Séc (BR-VT) đã có đơn kêu cứu gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ KH&CN, Bộ trưởng Bộ GTVT: “Cty Việt - Séc bị phá sản, NLĐ mất việc làm chỉ vì sự vô cảm và thiếu trách nhiệm của một số cá nhân và cơ quan Nhà nước, cụ thể là Cục Đăng kiểm VN và Cơ quan CSĐT Công an TPHCM. Người sáng lập Cty là ông Vũ Văn Đảo đang bị vướng vòng lao lý trong một vụ tai nạn mà nguyên nhân không liên quan gì đếnchất lượng tàu thuyền, nhưng đã bị Cơ quan CSĐT Công an TPHCM quy chụp cho tội đưa công nghệ vật liệu mới PPC vào sản xuất tàu thuyền ở VN và bán tàu thuyền cho lực lượng vũ trang”.
Trong một diễn biến cực nhanh, ngay sáng 17/6, Bộ trưởng Đinh La Thăng đã triệu tập và chủ trì cuộc họp giải quyết vướng mắc đối với việc đăng kiểm tàu thuyền bằng vật liệu mới PPC.
Tại cuộc họp này, Bộ trưởng Đinh La Thăng nghiêm khắc phê bình các đơn vị, cá nhân liên quan đã gây nên sự chậm trễ, thiệt hại cho DN và chỉ đạo ngay trong ngày 18/6, Cục Đăng kiểm VN phải có văn bản công nhận kết quả Đăng kiểm Hải quân và Cty Đăng kiểm quốc tế CS Lloyd (CH Séc).
   
Nhà máy đóng tàu của Cty Việt - Séc phải đóng cửa ngay khi giám đốc DN bị khởi tố điều tra.
Phá án oan…
Ngay trong ngày 18/6, khi Cục Đăng kiểm VN còn chưa kịp ra văn bản, Bộ trưởng Đinh La Thăng đã kí CV số 7783/BGTVT-KHCN về việc ứng dụng vật liệu PPC trong đóng phương tiện thủy nội địa gửi Cục Đăng kiểm VN. Tại CV này, Bộ GTVT khẳng định: “Hiện nay, pháp luật không cấm việc đóng tàu bằng vật liệu mới nói chung và vật liệu PPC nói riêng với điều kiện phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người và phương tiện”.
“Bộ GTVT yêu cầu Cục Đăng kiểm VN công nhận kết quả Đăng kiểm CS Lloyd hoặc Đăng kiểm Hải quân hoặc bất cứ một tổ chức đăng kiểm nào khác thực hiện, trên cơ sở đó cấp các giấy chứng nhận an toàn kĩ thuật cho các phương tiện thủy nội địa vỏ PPC trong giai đoạn chưa ban hành “Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về quy phạm phân cấp và đóng phương tiện thủy nội địa vỏ PPC””.
Điều lí thú là với chỉ đạo này của Bộ GTVT, kết luận điều tra của Cơ quan CSĐT CA TPHCM, cáo trạng của Viện KSND TPHCM đối với vụ án hình sự khởi tố, truy tố các bị can Vũ Văn Đảo (Giám đốc Cty Việt - Séc) và Đinh Văn Quyết (Giám đốc Cty CP Vũng Tàu Marina) về tội “Đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thủy không bảo đảm an toàn” đã sụp đổ hoàn toàn. Tại sao lại như vậy?
Kết luận điều tra của Cơ quan CSĐT CA TPHCM (số 372-25/KLĐT-PC44-Đ3) ngày 12/9/2014 do Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT CA TPHCM đại tá Nguyễn Minh Thông ký đã kết luận: “Hành vi sai phạm của bị can Vũ Văn Đảo thể hiện xuyên suốt qua ý thức chủ quan: Vũ Văn Đảo đưa công nghệ và vật liệu mới Polypropylen Copolymer (PPC) vào sản xuất tàu thuyền tại VN.
Tuy nhiên, khi tổ chức sản xuất, Vũ Văn Đảo không tuân thủ các quy định của pháp luật VN về sản xuất phương tiện giao thông, không thực hiện những quy định về đăng kiểm nên Cục Đăng kiểm VN chưa giải quyết đăng kiểm cho tàu thuyền làm bằng PPC (trong đó có tàu BP 12-04-02 bị chìm ở biển Cần Giờ ngày 2/8/2013 làm 9 người chết). Khi tàu làm bằng PPC không thể đăng kiểm theo hệ dân sự, Vũ Văn Đảo đã chuyển hướng bán cho lực lượng vũ trang và kí hợp đồng với Đăng kiểm Hải quân để đưa tàu thuyền làm bằng PPC vào lưu thông”.
   
CV ngày 18/6/2015 do đích thân Bộ Trưởng Đinh La Thăng ký yêu cầu Cục Đăng kiểm VN công nhận ngay kết quả đăng kiểm của Đăng kiểm Hải quân.
“Bị can Vũ Văn Đảo là người sản xuất ra tàu BP 12-04-02 nên biết rõ về tình trạng kĩ thuật của các tàu trên, Đảo biết rõ cơ quan đăng kiểm chưa cho phép sử dụng nhưng vẫn tìm cách đưa tàu BP 12-04-02 vào sử dụng. Hành vi của bị can Vũ Văn Đảo đã cấu thành tội “Đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thủy không đảm bảo an toàn”, quy định tại Điều 214 Bộ luật Hình sự”. Trên cơ sở kết luận điều tra, ngày 17/10/2014, Viện KSND TPHCM đã ra cáo trạng truy tố bị can Vũ Văn Đảo, Đinh Văn Quyết theo khoản 3 Điều 214 Bộ luật Hình sự.
Thế nhưng, đến nay, TAND TPHCM đã không thể đưa vụ án ra xét xử. TAND TPHCM còn trả lại hồ sơ cho Viện KSND yêu cầu: “Cần phải có kết luận giám định tàu ký hiệu BP 12-04-02 (do ông Phạm Duy Phúc điều khiển) không bảo đảm an toàn khi đưa vào sử dụng”; Thứ hai, các nguyên nhân dẫn đến chìm tàu BP 12-04-02 (tại biển Cần Giờ, TPHCM ngày 2/8/2013 làm chết 9 người) được cáo trạng viện dẫn “không có nguyên nhân nào liên quan đến việc chứng minh hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đã xảy ra là do “đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thủy không bảo đảm an toàn” như cáo trạng truy tố”.
Với diễn biến mới nhất là Bộ GTVT yêu cầu Cục Đăng kiểm VN công nhận kết quả đăng kiểm của Đăng kiểm Hải quân đối với các tàu PPC do Cty Việt - Séc sản xuất, trong đó có tàu BP 12-04-02, thì sẽ không còn cơ quan nào có thể ra kết luận tàu BP 12-04-02 không bảo đảm an toàn khi đưa vào sử dụng(?!).
Bộ trưởng Đinh La Thăng đã bất ngờ tham gia “phá” án, làm sụp đổ kết luận điều tra của Cơ quan CSĐT CA TPHCM lẫn cáo trạng của Viện KSND TPHCM. Vụ án “Đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thủy không bảo đảm an toàn” giờ chỉ còn 2 cách giải quyết là: Đình chỉ vụ án hoặc tuyên các bị cáo vô tội. 


Và Đăng kiểm Việt Nam đã đệ trình và Bộ GTVT đã công bố Quy chuẩn . Báo GTVT cho biết : "Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phân cấp và đóng phương tiện thủy nội địa chế tạo bằng vật liệu polypropylen copolyme (PPC) vừa được ban hành, tàu PPC được quy định sức chở tối đa 12 người, dài không quá 20m. Quy định này áp dụng cho tàu đóng trong nước hoặc nhập khẩu.

Được biết, PPC là loại vật liệu mới, cách đây vài năm được doanh nghiệp nhập khẩu từ CH Séc để đóng phương tiện thủy. Tuy nhiên, trên thế giới hiện chưa có quy chuẩn kỹ thuật riêng đối với tàu làm bằng PPC. Hiện nay, loại phương tiện làm bằng PPC gồm các loại: Chở hàng, chở người, thể thao, vui chơi, giải trí nhưng không được sử dụng để chế tạo tàu chở dầu, chở hóa chất nguy hiểm, tàu hai thân, cánh ngầm, tàu đệm khí." 

Bổ sung cho cuốn Bách khoa

BÀI ĐANG VIẾT 1/Những nữ đô đốc
Phụ nữ đã tham gia hải quân Mỹ từ hơn 100 năm nay .Hiện nay có hơn 52 nghìn người làm các nhiệm vụ hành chính, y tế và cả tham gia lái máy bay ,hệ thống chiến đấu ,thủy thủ ...Chức vụ đô đốc nữ đầu tiên là bà Alene Bertha Duerk vào năm 1972, còn bà Michelle J.Howard là đô đốc nữ 4 sao đầu tiên  từ năm 2014
2/ Tàu La Martinière -Đã chuyên chở nhiều tù nhân Việt Nam trong số đó có các nhà nho như Nguyễn Quang Diêu , Đỗ Văn Phong,

THĂM BẢO TÀNG QUỐC GIA CANBERRA

Sáng nay , đi thăm Bảo tàng Quốc gia Úc tại Canberra . Bảo tàng to lớn nằm ngay ven hồ .
Người ra vào tấp nập 

Cả cái xe của anh bụi đời "Doctor Saw" vào những năm 1930 cũng được trưng bày tại bảo tàng 


Bên cái đầu của Cesar !


Học viên cũ của khóa OCS Newport thăm trường cũ , chuẩn bị đón học viên mới từ HQND Việt Nam ??



Việt Nam vừa nhận một loạt swift boat từ Mỹ cho Hải quân Nhân dân .Trong khi đó, tại Mỹ ,các học viên sĩ quan của HQ Việt Nam Cộng Hòa , những người được đào tạo swift boat năm xưa lại thăm Trường cũ .Lịch sử thật trớ trêu


NEWPORT, R.I. (NNS) -- Sáu mươi sĩ quan Hải quân Nam Việt Nam đã được đào tạo theo chương trình OCS (Officer Candidate School) tại Newport trong năm 1970-1971 sau đó về nước làm việc cùng quân Mỹ , hôm nay ngày 11/04/ 2015 quay về thăm trường cũ ,tới thăm Naval Station Newport.


Tất cả họ đều thuộc Hội OCS Nam Việt Nam . Họ cùng với gia đình thăm các thiết bị huấn luyện tại Trung tâm Officer Training Command Newport và thăm Bảo tàng của Trường Hải Chiến Naval War College Museum.


Đoàn tham quan thăm một lớp học tại tòa nhà Callaghan , the Lt. Michael P. Murphy Combat Training Pool, King Hall, và khu vực sĩ quan học tập tại tòa nhà mang tên Nimitz . Chuyến tham quan kết thúc bằng bài nói của Capt. Kevin McGowan, sĩ quan chỉ huy của Trung tâm giới thiệu chương trình OCS hiện nay .


Khoảng 800 học viên sĩ quan Nam Việt Nam đã được đào tạo trong thời gian 20 tuần tại căn cứ Newport. Có 12 lớp sĩ quan đã hoàn tất chương trình OCS . Sau khi huấn luyện OCS họ được tiếp tục huấn luyện một tháng tại căn cứ đảo Treasure Island, California. Điều kiện sông ngòi quanh căn cứ này khá giống với Nam Việt Nam .
Sau khi học xong ,về nước , họ sử dụng các swift boat  là những tàu tuần tra nhỏ ven biển và ven sông mà Mỹ viện trợ từ năm 1969, nhằm ngăn chặn Việt Cộng và Bắc Việt xâm nhập . Nhiều học viên cũ cảm động khi thăm trường xưa, nơi mà họ chưa từng quay trở lại sau 46 năm . Có những vị này phát biểu : Danh Le, Class 11, of Torrington, Connecticut , sau khi học là thủy quân đánh bộ, Lt. j.g. Du Tran, Class 2, of North Providence, Rhode Island ; Dan Ly of Fairfax, Virginia, Class 5, khi học mới 19 tuổi ; Tran Le Tri, Class 9, of Quimper, France ; Quan Tran, Class 12, of Severna Park, Maryland 

Bao giờ thì các học viên OCS là sĩ quan Quân đội ND Việt Nam ?? người đã và đang nhận các swift boat ???

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

Hình trên trống đồng tại Trung Quốc



Bài đang viết ....Hình thuyền trên trống đồng (铜鼓船纹Tónggǔ chuán wén) đã được bàn luận khá nhiều . Chúng ta cần tìm hiểu xem những ý kiến của họ ra sao . Vào mạng Google 铜鼓船纹 , cho ta 244 nghìn kết quả . Còn tìm Google "hình thuyền trống đồng " cho ta 424 K kết quả, gấp đôi


Đầu tiên ta cần so sánh trống đồng đào thấy tại Việt Nam và Trung Quốc qua bài viết :Nguồn gốc trống đồng: Cuộc tranh cãi giữa Việt Nam và Trung Quốc
GS Nguyễn Văn Hảo, nguyên Viện phó Viện Khảo cổ cho hay, hiện nay nhiều nước Đông Nam Á cũng có trống đồng. Nhưng ở Việt Nam và Trung Quốc trống đồng có niên đại lâu hơn cả. Việc phân định trống đồng của nước ta có trước, hay Trung Quốc có trước vẫn là vấn đề gây tranh cãi trong giới chuyên môn. Một số chuyên gia khảo cổ học phương Tây cho rằng, Việt Nam là cái nôi của trống đồng, người Trung Quốc đã lấy mẫu trống đó về thêm một số họa tiết để đúc lại. Nhưng theo quan điểm thống trị của Trung Quốc thì trống đồng Vạn Gia Bá 万家坝 ở Vân Nam có đầu tiên, ra đời thứ hai là trống Đông Sơn, thứ ba là trống Thạch Trại Sơn.
Để phản bác điều đó nhiều nhà nghiên cứu của nước ta đưa ra lập luận khẳng định Việt Nam là cái nôi của trống đồng. TS Hảo đồng ý với ý kiến Cụ Đào Duy Anh cho rằng, trống đồng Đông Sơn ra đời đầu tiên, sau đó người Hán mới mang về biến cái đó thành của mình. “Không phải tôi là người Việt mà tôi nhất trí như vậy mà nghiên cứu của tôi đã chỉ ra. Khi nói tới trống đồng người ta thừa nhận là nhạc cụ gõ, yếu tố nào quyết định là nhạc cụ thì đầu tiên là hình dáng, mặt trống gõ phát ra âm thanh, thân trống là phần cộng hưởng. Thứ hai, hình dáng trống cũng quyết định đến âm thanh. Thứ ba, chất liệu chế tạo trống. Ba yếu tố đó không chỉ tạo thành âm sắc, âm vực của chiếc trống mà nó có ý nghĩa, nó biểu hiện hồn phách của dân tộc có trống đó, dân tộc nào vẽ hoa văn của dân tộc đó. Hoa văn trên trống đồng là hoa văn thể hiện văn hóa, của dân tộc chế tạo ra hoa văn đó chứ không phải mỗi trống có hoa văn riêng”, GS Hảo cho biết.
Trong sách viết về nguồn gốc trống đồng của người Trung Quốc họ nói chiếc trống cổ do 6 dân tộc chế tạo, trong đó có người Lạc Việt. Số lượng trống tìm thấy là 46 chiếc. Điều đó là bất hợp lý, không thể 6 dân tộc lại chế tạo một loại trống.
Theo nghiên cứu của GS Hảo, chiếc trống Thạch Trại Sơn có hoa văn giống Đông Sơn, nhưng người Điền đã khắc thêm những hoa văn của họ, đè lên hoa văn của Đông Sơn. Trong hội nghị quốc tế tổ chức tỉnh Quế Lâm, Trung Quốc, khi TS Hảo phát biểu và đưa ra những giải thích khiến các nhà khoa học Trung Quốc cũng phải đồng ý. Chính một GS – Hiệu phó của trường Học viện Dân tộc học Quảng Tây tiến hành phân tích đồng vị chì chiếc trống ở Quý Huyện, Quảng Tây cũng khẳng định rằng, chiếc trống đồng cổ nhất của người Đông Sơn chế tạo. Bằng cách nào đó chiếc trống được đưa sang Trung Quốc và được thợ khắc thêm hoa văn trên trống.
Qua tìm hiểu của GS Hảo, những chiếc trống mà Trung Quốc nói là trống cổ của họ, được tìm thấy trong ngôi mộ của viên quan từng cai trị ở nước ta. Vì thế, ông ta mất đi, biết trống đồng quý đã bảo con cháu chôn cất trong mộ của mình. Giống như Mã Viện sang đàn áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó lấy trống đồng về đúc ngựa. Do vậy, việc Trung Quốc cũng có những chiếc trống đồng bằng với niên đại ở nước ta là do họ đã mang về để sử dụng.
Những chiếc trống đồng Thạch Trại Sơn của người Điền 滇 có cách nay hơn 1 nghìn năm hoa văn tả thực hơn trống Đông Sơn, độ tả thực cao, chi tiết. Tay người đeo vòng, người mặc áo hoa kẻ sọc, có khuyên tai. Điều đó chứng tỏ người Điền lấy trống Đông Sơn cải tạo thành thùng đựng vỏ ốc, mặt họ phá đi đúc mặt mới làm nắp, dưới làm một cái đáy để bỏ vỏ ốc. Đối với người Điền thì ốc là tiền, những vỏ con ốc lợn được lấy từ biển của Ấn Độ, là những thứ rất quý. Những hoa văn gốc của trống như hình ảnh người mặc nửa trần, đội mũ lông chim đặc trưng người Đông Sơn đã bị cạo, khắc hình ảnh đặc trưng của người Điền.
Những lý giải của GS Hảo về trống đồng cổ của ông được Hội đồng nghiên cứu trống đồng Trung Quốc cũng phải công nhận là đúng. Tập luận văn nghiên cứu về trống đồng của GS Hảo hiện được Bảo tàng khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc ghi nhận và lưu giữ tại đây. Nhiều người trong giới chuyên môn đã công nhận Việt Nam là cái nôi của trống đồng.



Cuốn sách nêu nhiều hình thuyền nhất là cuốn " 中国古船图谱 " (Zhōngguó gǔ chuán túpǔ Trung
Quốc cổ thuyền đồ phổ) của tác giả Vương Quán Trác (王冠倬Wángguàn zhuō 1934-2008 ) , do Tam Liên Thư điếm xuất bản . Vương người Zouping 邹平, Sơn Đông , tốt nghiệp khoa lịch sử Đại học Bắc Kinh. Từ năm 1960 bắt đầu tham gia Bảo tàng Lịch sử TQ ,nghiên cứu và trình bày về đời Tống và Nguyên và bắt đầu khảo cứu lịch sử khoa học tự nhiên của TQ. 1972, chủ trì lịch sử Tống Nguyên ,lịch sử khoa học cổ đại Trung Quốc. Về hưu năm 1994. Là thành viên nhiều tổ chức : "中国海外交通史研究会理事" ,"中国古船研究中心特约研究","中国造船工程学会船史组" Cùng với 王嘉 , xuất bản cuốn "中国古船扬帆四海" ,đã được trường Michigan xuất bản dạng điện tử
Tịch Long Phi

Cuốn sách thứ hai là "中国古代造船史" (Zhōngguó gǔdài zàochuán shǐ Lịch sử đóng thuyền cổ đại Trung Quốc ) , tác giả  席龙飞 (Xílóngfēi Tịch Long Phi) sinh năm 1930 ,dân tộc Mãn Châu , quê quán Mai Hà Khẩu Meihekou tỉnh Cát lâm 吉林梅河口; tốt nghiệp đóng tàu Đại học Đại Liên , hiện nay là giáo sư Đại học Vũ Hán , Phó Chủ tịch Hội Lịch sử Tàu thuyền TQ . Đã trải qua 44 năm giảng dạy nghiên cứu thiết kế, công nghệ và  lịch sử đóng tàu , có nhiều công trình khôi phục các thuyền cồ Trung Quốc . Đã có 70 công trình công bố .
Cuốn sách của Tịch có 12 chương với nội dung như sau :
Chương 1- 舟船以前的渡水浮具 (Zhōu chuán yǐqián de dù shuǐ fú jù) Dụng cụ nổi để sang sông trước khi có thuyền
Chương 2- 独木舟及其中国的遗存(Dú mùzhōu jí qí zhōngguó de yícún) Thuyền độc mộc và di sản của chúng tại Trung Quốc
Chương 3- 木板船及上古的舟船活动(Mùbǎn chuán jí shànggǔ de zhōu chuán huódòng) Thuyền gỗ và các hoạt động thuyền bè thời thượng cổ
Chương 4- 春秋战国时代的造船技术(Chūnqiū zhànguó shídài de zàochuán jìshù)Kỹ thuật đóng thuyền thời Xuân Thu Chiến Quốc
Chương 5- 秦代水陆交通的发展及船舶(Qín dài shuǐlù jiāotōng de fǎ zhǎn jí chuánbó) Sự phát triển của giao thông thủy bộ và đóng tàu đời nhà Tần
Chương 6-汉代的海上丝绸之路与船舶( Hàndài dì hǎishàng sīchóu zhī lù yǔ chuánbó) Con đường tơ lụa và thuyền bè đời nhà Hán
Chương 7- 三国两晋南北朝时期的造船技术发明(Sānguó liǎngjìn nánběicháo shíqí de zàochuán jìshù fāmíng) Những phát minh về kỹ thuật đóng tàu thời Tam Quốc, Lưỡng Tấn và Nam Bắc Triều
Chương 8- 隋唐时代的造船技术成就(Suítáng shídài de zàochuán jìshù chéngjiù) Thành tự kỹ thuật đóng tàu thời Tùy Đường
Chương 9- 宋代造船技术的发展与成熟(Sòngdài zàochuán jìshù de fǎ zhǎn yǔ chéngshú) Sự phát triển và thành thục của kỹ thuật đóng thuyền đời Tống
Chương 10-元承宋制的 元代造船业 (Yuán chéng sòng zhì de yuán dài zàochuán yè) Sự nghiệp đóng tàu đời Nguyên trong đời Tống (??)
Chương 11- 明代造船业的繁盛( Míngdài zàochuán yè de fánshèng) Sự phát triển rực rỡ ngành đóng tàu đời Minh
Chương 12- 海禁与中国造船业衰落(Hǎijìn yǔ zhōngguó zàochuán yè shuāiluò) Bế quan tỏa cảng và sự suy thoái của đóng tàu Trung Quốc
Tịch Long Phi

Tịch Long Phi
Tịch Long Phi



Qua trong cuốn sách củaVương Quán Trác cho ta thấy :

Hính 51 (1-góc trái)-trên trống đồng thứ 1 đào năm 1955 tại Thạch Trại Sơn Tấn Ninh Vân Nam ( 云南晋宁石寨山 )

Hình 52 (2-góc trái)- như trên

Hình 53 (3-trái) - trên trống đồng đào năm 1975 tại La la Xung Hội Lý Tứ Xuyên (四川会理罗罗冲 Sichuan Huili Luoluochong)

Hình 54 (4-trái)-như trên

Hình 55- (bên phải) trên trống đồng thứ 13 đào thấy tại Thạch Trại Sơn năm 1955



Hình 67 : trên - ghi là 汉据 (Hàn jù hán cứ -theo kiểu Hán )Thuyền trên trống đồng Ngọc Lũ 玉镂Yù lòu Hình 67 giữa và dưới - hình thuyền trên trống đồng thứ 14 tại Thạch Trại Sơn năm 1955.

Ta có bảng sau đây : 

 Nơi đào được

 Tên gọi
 Thời đại
 Vị trí

La Bạc Loan , Quý Châu Quảng Tây
广西贵州罗泊湾

Guǎngxi guìzhōu luō pō wān
"百廿斤" 铭文铜鼓船图 (Bǎi niàn jīn míngwén tónggǔ chuán tú)
Tây Hán 
船尾一梢
Chuánwěi yī shāo
Mộ vua Nam Việt Quảng Châu 
广州南越王墓Guǎngzhōu nányuè wáng mù
铜提简船图
Tóng tí jiǎn chuán tú
Tây Hán
船尾一梢
Chuánwěi yī shāo
Thạch Trại Sơn Tấn Ninh Vân Nam 
云南晋宁石寨山
铜鼓船图
tónggǔ  chuán tú
Hàn
船尾一梢
Chuánwěi yī shāo
A  Chương Trại tại Quảng Nam Vân Nam
云南广南阿章
铜鼓船图
tónggǔ  chuán tú
Hán
船尾一梢
Chuánwěi yī shāo
 广西西林普驮
Guǎngxi xīlín pǔ tuó
铜鼓船图
tónggǔ  chuán tú
Hán
船尾一梢
Chuánwěi yī shāo
Quận Đằng Sơn Đông
 山东滕县
Shāndōng téng xiàn
石刻苇束船图
Shíkè wěi shù chuán tú
Hán
船首船尾名一梢
Chuánshǒu chuánwěi míng yī shāo
 Nghi Nam Sơn Đông
山东沂南
Shāndōng yí nán
石刻船图
Shíkè chuán tú
Hán
船尾一梢
Chuánwěi yī shāo


Hình 70 (trên) và 71 (dưới ) -


Cuốn sách của Vương viết : 4. 广西玉镂铜鼓上的船图,尾部 也有桨形舵 (图 67, 又见图64)。四条资料说明了从桨到舵的演化, 也说明在桨形舵出现后仍有以桨代舵者. (Guǎngxi yù lòu tónggǔ shàng de chuán tú, wěibù yěyǒu jiǎng xíng duò (tú 67, yòu jiàn tú 64). Sìtiáo zīliào shuōmíngliǎo cóng jiǎng dào duò de yǎnhuà, yě shuōmíng zài jiǎng xíng duò chūxiàn hòu réng yǒu yǐ jiǎng dài duò zhě) 4- Hình thuyền trên trống đồng Ngọc Lũ Quảng Tây , phần đuôi cũng có lái hình bơi chèo (hình 67 , xem thêm hình 64) . Bốn dữ liệu nói trên cho ta thấy sự tiến hóa từ bơi chèo tới cái lái, và cũng cho ta thấy rằng sau khi xuất hiện lái kiểu bơi chèo thì cũng vẫn là lái bơi chèo .
广州德庆东汉墓出土的陶船,尾舱后壁有圆形穿孔, 孔之两侧各有托架Guǎngzhōu dé qìng dōnghàn mù chūtǔ de táo chuán, wěi cāng hòu bì yǒu yuán xíng chuānkǒng, kǒng zhī liǎng cè gè yǒu tuō jià Con thuyền gốm đào thấy tại mộ đời Đông Hán tại Đức Khánh Quảng Châu, vách phía sau khoang lái có khoét răng hình tròn , hai bên lỗ có giá gia cường .


Còn cuốn sách của Tịch Long Phi

Trên trang Bảo tàng của Đại học Giao thông Thượng Hải có hình thuyền trên trống đồng và lời bình như sau :


中国人在划桨的基础上发明了可不出水面作连续划水、兼具推进和操纵两种功能的属具--橹,提高了推进效率,一根橹可以代替几枝桨,有"轻橹健于马"和"一橹三桨"之说。在西汉铜鼓上就有摇尾橹的楼船纹 Người Trung Quốc trên cơ sở chiếc bơi chèo đã phát minh ra chiếc nụ liên tục nằm dưới nước để  quạt nước , kết hợp cả hai động năng đẩy thuyền tiến và lái thuyền , nâng cao hiệu quả của việc đẩy thuyền , một cái nụ có thể thay thế cho vài cái mái chèo, như người ta nói " khinh lỗ kiện vu mã" và "nhất lổ tam tưởng" tức là " nụ nhẹ thuyền nhanh như ngựa " hoặc " một nụ ba chèo" . Trên trống đồng Tây Hán có hình lâu thuyền với nụ tại đuôi thuyền.



Người Nhật phát triển Hán ngữ hiện đại

Bài của Nguyễn Hải Hoành 

Việt Nam, Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên chịu ảnh hưởng rất lớn của văn hóa Trung Quốc (TQ), thời xưa đều từng mượn chữ Hán của người TQ làm chữ viết cho nước mình trong nhiều nghìn năm, làm nên Vành đai văn hóa Hán ngữ. Nhưng người Nhật không chỉ vay mượn một chiều mà từ cuối thế kỷ 19 còn dùng chữ Hán để sáng tạo ra nhiều từ ngữ mới tương ứng với các khái niệm khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội-nhân văn hiện đại trong văn minh phương Tây. Những từ ngữ chưa từng có trong Hán ngữ ấy lại du nhập về TQ, trở thành một phần quan trọng trong Hán ngữ hiện đại của người TQ, được người TQ, Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc sử dụng một cách phổ biến và quen thuộc tới mức rất nhiều người không biết đó là những từ ngữ đến từ Nhật mà vẫn tưởng là của TQ.

Cũng mượn dùng chữ Hán như người Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc, nhưng người Nhật đã có những sáng tạo đáng khâm phục như vậy, đó là do họ đặc biệt có năng lực học tập và tiếp thu văn hóa nước ngoài, có tinh thần mạnh dạn đổi mới. Một số học giả TQ ước tính các từ ngữ do người Nhật sáng tạo chiếm khoảng 70% tổng số từ ngữ hiện dùng trong Hán ngữ ngày nay. Nói cách khác, trong các khái niệm người TQ và Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc dùng để suy nghĩ, nói và viết, có 70% là do người Nhật tạo ra. Điều đó cho thấy trong 100 năm qua, người Nhật đã có ảnh hưởng lớn tới tư duy của người TQ. Họ đã làm phong phú Hán ngữ, góp phần rất quan trọng giúp TQ và các nước trong vành đai văn hóa Hán ngữ nhanh chóng tiếp thu văn minh phương Tây, đẩy mạnh tiến trình lịch sử về cải cách xã hội và văn hóa, chính trị, tiến lên con đường hội nhập quốc tế. Trở thành nước xuất khẩu Hán ngữ hiện đại, Nhật đã đóng vai trò cầu nối TQ và Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc với văn minh phương Tây. Những sáng tạo ngôn ngữ của họ rất đáng để chúng ta nghiên cứu học tập.

Dân tộc Nhật thời cổ không có chữ viết. Thời Chiến Quốc, chữ Hán truyền vào Nhật. Năm 600, Nhật Hoàng lần đầu tiên cử sứ giả triều đình sang thăm TQ thời nhà Tùy, kèm theo nhiều học sinh sang tìm hiểu, học tập về thể chế chính trị xã hội, giáo dục, văn hóa TQ. Thời Đường, từ năm 630 đến năm 894 đã có gần 20 đoàn sứ giả Nhật sang TQ học tập. Họ học lấy học để mọi cái hay cái tốt của văn hóa Hán và mang về nước nhiều thứ, như kỹ thuật xây dựng, chế tạo vật liệu, luyện kim… rất nhiều thư tịch chữ Hán, nhất là thư tịch Phật giáo. Từ đó người Nhật bắt đầu mượn chữ Hán làm chữ viết cho nước mình, nhưng đọc theo âm tiếng Nhật và viết theo trật tự từ tiếng Nhật. Họ làm thế được vì chữ Hán là chữ biểu ý (chữ ghi ý, ideograph), có thể đọc theo những âm khác nhau. Nhưng vì thứ chữ này không ghi âm được tiếng mẹ đẻ nên lúc đầu người Nhật chỉ dùng chữ Hán để viết, coi là thứ chữ của tầng lớp quan lại, quý tộc, trí thức, chủ yếu dùng trong công việc hành chính và văn học.

Thế kỷ 10, người Nhật sáng tạo ra chữ viết riêng của họ, gọi là chữ Kana (chữ Hán-Việt là Giả danh), là những ký tự ghi âm tiếng Nhật, một loại chữ cái biểu âm bản thân không có ý nghĩa gì, được tạo ra từ một phần của chữ Hán, đơn giản hơn chữ Hán. Mới đầu chữ Kana được dùng để phiên âm chữ Hán, về sau phát triển hình thức kết hợp cả hai thứ chữ.

Cuối thế kỷ 19, trong quá trình giao lưu với phương Tây, người Nhật thấy việc dùng các từ ngữ văn ngôn của Hán ngữ TQ khó có thể biểu đạt được các khái niệm mới của văn hóa phương Tây. Vì thế một số học giả Nhật đã vận dụng vốn hiểu biết sâu sắc chữ Hán, tiến hành cải tạo từ ngũ cũ và tạo ra nhiều từ ngữ mới không có trong Hán ngữ, hoặc có nhưng với ý nghĩa khác, để thể hiện các khái niệm mới, sự vật mới chưa từng có trong văn hóa TQ. Ví dụ các từ hy vọng, trường hợp, phương châm, quyền uy, chi bộ, tôn giáo, dẫn độ, thủ tục…. tổng cộng ngót nghìn từ ngữ ngày nay người TQ quen dùng đều là do người Nhật tạo ra.

Người Nhật còn đi đầu trong việc đơn giản hóa (bớt nét) những chữ Hán nhiều nét. Về sau người TQ đã tiếp thu cải tiến này và tiến hành đơn giản hóa chữ Hán với quy mô lớn, tạo ra hàng nghìn chữ giản thể (simplified character). Đại lục TQ hiện chỉ dùng chữ giản thể, không dùng chữ phồn thể (chữ đủ nét, complex character) như Hong Kong, Đài Loan.

Các sáng tạo của người Nhật đã góp phần không nhỏ phát triển, hoàn thiện Hán ngữ và được TQ (sau đó là Triều Tiên, Việt Nam) tiếp thu, sử dụng nhuần nhuyễn tới mức ít ai biết đó là thành tựu của người Nhật. Không rõ vì sao các từ điển chữ Hán do TQ xuất bản đều không ghi xuất xứ Nhật của những từ đó. Gần đây các học giả TQ xới lại vấn đề này, nhưng một số người TQ có ý hạ thấp hoặc phủ nhận cống hiến của người Nhật.

Không thể phủ nhận, Nhật đã có ảnh hưởng tới TQ trên nhiều mặt, quan trọng nhất là đã có tác dụng mở ra cánh cửa giúp TQ tiếp xúc với văn minh phương Tây.

Thời Minh Trị (Meiji era, 1868-1912), Nhật đẩy mạnh mở cửa tiếp thu văn minh phương Tây chứ không đóng cửa “bế quan tỏa quốc” như TQ, Việt Nam. Khi thấy được tính ưu việt của văn minh phương Tây, người Nhật bèn dứt khoát bỏ ngay ông thầy Tàu mà họ đã học mấy nghìn năm để học ông thầy Tây, ồ ạt cử thanh niên sang Âu Mỹ học tập, giới trí thức Nhật say sưa đọc và dịch hầu như toàn bộ các sách có tính khai sáng của Âu Mỹ. Rất nhiều khái niệm mới, phần lớn là khái niệm trừu tượng, được họ dịch ra chữ Hán, qua đó phát huy được tác dụng biểu ý thâm sâu vốn có của chữ Hán (trong khi bán đảo Triều Tiên, Việt Nam bắt đầu loại bỏ chữ Hán). Giới học giả Nhật đã chuyển ngữ sang chữ Hán một cách rất hiệu quả những từ ngữ phương Tây thể hiện các khái niệm mới người châu Á chưa từng biết, chủ yếu về y học, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội-nhân văn.

Năm 1898, hai học giả lớn đại biểu phái Duy tân TQ là Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đến Nhật. Trong thời gian ở đây, Khang Hữu Vi đã dịch sách Nhật và ra một tờ báo chữ Hán phát hành về TQ, trong đó ông đã dùng các từ chữ Hán do người Nhật sáng tạo.

Nước Nhật sau chiến thắng tiêu diệt hạm đội Nga tại eo biển Tsushima (1904) đã trở thành tấm gương sáng của châu Á. Giới tinh hoa TQ đua nhau sang Nhật học tập, hoạt động: Tôn Trung Sơn, Chu Ân Lai, Lỗ Tấn, Tưởng Giới Thạch, Quách Mạt Nhược… Hầu hết các nhân vật chủ chốt của phong trào Tân Văn hóa TQ đều từng học ở Nhật. Họ đã mang về nước những từ ngữ chữ Hán được người Nhật chuyển ngữ từ ngôn ngữ phương Tây. Ví dụ chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Marx, triết học, … Từ ngoại lai nguồn gốc Nhật ồ ạt tràn vào TQ. Người TQ tiếp thu gần như toàn bộ số từ này và lâu ngày biến thành từ Hán ngữ 100%. Các thế hệ người TQ về sau hầu như không thể biết các từ ngữ đó là do người Nhật sáng tạo.

Thời ấy TQ cũng bắt đầu dịch sách của phương Tây. Hồi đó các học giả TQ có ba quan điểm về vấn đề này: 1. Người TQ nên cố hết sức tự phiên dịch, không nên du nhập vô điều kiện các từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật. 2. TQ nên mượn dùng từ ngữ người Nhật đã dịch. 3. Nên dịch âm, tức phiên âm tiếng nước ngoài mà không dịch nghĩa.

Tiêu biểu cho quan điểm thứ nhất là Nghiêm Phục (Yan Fu, 1853-1921), nhà tư tưởng, nhà phiên dịch nổi tiếng từng học ở Anh, người đề xuất lý luận Tín, Nhã, Đạt có ảnh hưởng lớn trong giới phiên dịch ở TQ. Ông đã dịch cuốn Evolution and Ethics (Tiến hóa và Đạo đức, của Thomas Huxley), lấy tên sách là Thiên diễn luận, lần đầu tiên giới thiệu cho người TQ biết một lý thuyết khoa học tiên tiến: thuyết Tiến hóa. Trong quá trình dịch, do quá chú trọng Nhã (là yêu cầu khó nhất), nhiều từ do ông dịch tỏ ra tối nghĩa khó hiểu, không được dư luận TQ chấp nhận sử dụng.

Học giả nổi tiếng Vương Quốc Duy (Wang Guo-wei, 1877-1927) đại diện quan điểm nên dùng từ ngoại lai gốc Nhật, nhằm tiết kiệm công sức cho người TQ. Theo ông, người Nhật dịch quá hay, trong khi người TQ dịch thiếu sáng tạo. Quan điểm trên được thực tế chứng minh là đúng: người TQ (và cả VN, Triều Tiên) đều dùng các từ Nhật dịch.

Trương Sĩ Chiêu (Zhang Shi-zhao, 1881-1973, từng học ở Nhật và Anh) đại diện cho chủ trương phiên âm từ ngữ tiếng nước ngoài, nhưng vì những từ phiên âm đó đọc không thuận miệng nên về sau cũng đều bị đào thải. Ví dụ telephone TQ dịch âm là德律风 [de lu feng], sau phải nhường chỗ cho từ điện thoại do Nhật dịch. Người Nhật cũng có chủ trương dịch âm, ví dụ từ club họ dịch sang Hán ngữ là câu lạc bộ, rất đạt cả về âm, hình, ý. Nhưng cũng có những từ Nhật dịch không được TQ chấp nhận, như cholera (dịch tả), Nhật dịch âm là虎列拉 [hu lie la], được TQ dùng khá lâu nhưng về sau thay bằng từ 霍乱 [hu luan] do TQ dịch. Hoặc logic Nhật dịch là luân lý, xem ra không đạt; về sau Nghiêm Phục dịch là逻辑 [luo ji], đạt cả về âm, hình, ý. Từ này về sau đã truyền vào Nhật.

Giới học giả Nhật chủ yếu dùng hai cách sau để dịch từ ngữ phương Tây:
Gán thêm hàm nghĩa mới vào những từ ngữ có sẵn trong Hán ngữ, dần dần làm các từ ngữ đó mất ý nghĩa cũ. Ví dụ Nhật dùng xã hội dịch từ society; trong Hán ngữ cổ, xã hội là nói việc tụ tập cúng tế vào mùa, mùa thu. Nhật cũng dùng từ dân chủ trong từ ngữ thứ dân chi chủ tể庶民之主宰để dịch khái niệm democracy hoàn toàn ngược lại.
Sáng tạo từ ngữ chữ Hán hoàn toàn mới, cách này dùng nhiều nhất. Khi từ ngữ phương Tây không có khái niệm tương ứng trong Hán ngữ, người Nhật bèn tự đặt ra từ chữ Hán mới. Ví dụ nổi tiếng nhất là từ điện thoại đã thay cho từ 德律风. Các danh từ trừu tượng lại càng nhiều, như dân tộc, cá nhân, khoa học, triết học…

Có thể thấy người Nhật có xu hướng ưa dùng từ kép (song tự từ) gồm hai chữ, có ưu điểm ngắn gọn, dễ nhớ, ví dụ nhân dân, phục vụ, chính phủ, cán bộ…

Thực ra khi tiếp xúc với các nguyên tác của phương Tây, người TQ cũng đã dùng tư duy của mình để sáng tạo một số khái niệm. Điển hình là Nghiêm Phục. Ví dụ economy, người Nhật dịch là kinh tế, ông dịch là kế học (计学). Evolution Nhật dịch là tiến hóa, ông dịch là thiên diễn (天演). Philosophy Nhật dịch là triết học, ông dịch là lý học (理学). Capital Nhật dịch tư bản, ông dịch mẫu tài (母材). Metaphysics Nhật dịch hình nhi thượng học (形而上学), ông dịch huyền học (玄学)… Nghiêm Phục từ chối dùng từ xã hội (Nhật dịch từ society), mà ông dịch là quần (群), xã hội học là quần học (群学). Người TQ cho rằng cách dịch nói trên của Nghiêm Phục chưa hợp lý. Có lẽ người Việt chúng ta cũng nghĩ như vậy.

Rốt cuộc các từ dịch của Nhật giản đơn dễ hiểu nên được người TQ ưa dùng hơn. Từ đó các từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật biến thành từ TQ. Vương Quốc Duy cho rằng cách dịch của Nghiêm Phục sở dĩ không được dư luận chấp nhận, chủ yếu do ông quá chú trọng nhã, chú trọng văn dịch phải đẹp, dùng những từ Hán cổ khó hiểu. Tuy vậy, Nghiêm Phục vẫn chấp nhận một số từ Nhật dịch, ví dụ tự do (dịch từ liberty và freedom).

Có học giả TQ đặt vấn đề: Cùng một thuật ngữ phương Tây khi đến TQ và Nhật được dịch thành hai loại từ có mùi vị khác xa nhau, cuối cùng kết thúc bằng việc từ TQ dịch (Trung dịch) thua, từ Nhật dịch (Nhật dịch) thắng. Tại sao lại như vậy, điều này rất đáng suy ngẫm!

Năm 1898, Lương Khải Siêu dịch tiểu thuyết Nhật “Giai nhân chi kỳ ngộ” ra Hán ngữ, đánh dấu sự bắt đầu du nhập TQ của các từ ngoại lai đến từ Nhật. Năm 1998, nhân kỷ niệm 100 năm sự kiện này, một số học giả TQ đặt câu hỏi: Trong thời gian ấy nếu không sử dụng các từ ngoại lai gốc Nhật mà chỉ dùng những từ do Nghiêm Phục dịch, thì người TQ hiểu và suy nghĩ như thế nào về các khái niệm du nhập từ văn minh phương Tây? Và điều đó có ảnh hưởng ra sao tới tiến trình lịch sử của TQ? Cụ thể, nếu các khái niệm chính trị, kinh tế, văn hóa, cách mạng, giai cấp, xã hội chủ nghĩa, tư bản chủ nghĩa… đổi sang một phương thức khác xuất hiện trước mắt người TQ, phải chăng sự hiểu biết, cảm thụ của người TQ đối với các khái niệm đó sẽ có biến đổi?

Chữ Hán là của người TQ, người Nhật chỉ mượn dùng. Nhưng khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, người Nhật dám mạnh dạn dịch từ ngữ chữ Tây ra chữ Hán-Nhật, còn người TQ thì ngại làm điều đó, chủ yếu do người TQ có tâm lý không dám động đến chữ Thánh hiền của tổ tiên mình. Mặt khác vì nhà nước Nhật đối ngoại thi hành chính sách mở cửa hòa nhập, học cái hay cái tốt của thế giới, đối nội đẩy mạnh giáo dục quốc dân. Trái lại phong kiến TQ vốn cho mình là trung tâm tinh hoa thế giới, coi thường người nước ngoài, đối ngoại thi hành chính sách đóng cửa, đối nội thi hành đường lối ngu dân, dĩ nhiên không khuyến khích học phương Tây, vì thế tất nhiên TQ đi sau Nhật về mặt dịch ngôn ngữ Âu Mỹ.

Ban đầu các học giả Nhật cũng chưa thống nhất cách dịch từ ngữ phương Tây. Ví dụ từ literature họ dịch là văn chương học và văn học, sau cùng văn chương học bị đào thải. Từ art mới đầu dịch là nghệ thuật/ mỹ thuật/ văn học kỹ nghệ, mãi cho tới đầu thế kỷ 20 từ nghệ thuật mới chiếm vị trí thống lĩnh. Từ individual vất vả hơn cả, mới đầu dịch là nhất cá nhân, sau dịch là độc nhất giả/ nhân/ độc nhất cá nhân/ tư nhân… mấy từ này đồng thời được dùng trong một thời gian dài, cuối cùng từ cá nhân thắng.

Nhưng từ nửa cuối thế kỷ 20 trở đi, khi cần chuyển ngữ các từ ngữ phương Tây, người Nhật lại ngại chuyển sang chữ Hán (là loại chữ biểu ý khó học khó nhớ) mà dùng cách dịch âm và thể hiện bằng chữ Katakana, một loại chữ biểu âm (chữ ghi âm, phonography). Ví dụ: máy tính họ dùng computer, nhà báo dùng journalist, thịt cừu dùng lamb, và rất nhiều từ khác như bus, taxi, sex, fax, pizza, goods … Người nước ngoài biết tiếng Anh chỉ cần biết các chữ cái Katakana là có thể đọc hiểu khá nhiều từ tiếng Nhật. Một số học giả TQ cũng tán thành cách chuyển ngữ như vậy, vì đỡ mất công suy nghĩ chọn từ chữ Hán; vả lại tiếng Anh đã quốc tế hóa trên toàn cầu.

Từ thập niên 70 thế kỷ 20 tới nay là thời kỳ từ ngoại lai nguồn gốc Nhật lần thứ hai du nhập vào TQ. Sau khi TQ lập quan hệ ngoại giao với Nhật (1972) và bắt đầu cải cách mở cửa, nhiều từ tiếng Nhật, cách dùng từ, phương thức biểu đạt của người Nhật bắt đầu xuất hiện trong tiếng TQ, như 卡拉OK (Karaoke), 料理 (món ăn), 写真 (tả thật, vẽ chân dung), 欧巴桑 (obasan, từ chỉ phụ nữ trung niên trở lên), 卡哇伊 (kawayi, đáng yêu) v.v… Sự du nhập ấy ban đầu qua Hong Kong, Đài Loan, hiện nay trực tiếp vào TQ qua mạng Internet. Hầu hết các từ ngoại lai nguồn gốc Nhật gần đây du nhập vào TQ đều có liên quan với ACG (Animation, Comic, Game: phim hoạt hình, tranh hoạt họa, trò chơi máy tính), chủ yếu do giới trẻ TQ chủ động tiếp thu. Qua đó đã làm giàu vốn từ và sức biểu đạt của Hán ngữ, đồng thời các khái niệm và tư tưởng mới cũng du nhập vào TQ.

Một số học giả TQ khẳng định sự ồ ạt du nhập các từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật đã ảnh hưởng tới tiến trình lịch sử hơn 100 năm qua của TQ. Họ cũng tranh luận về mức độ ảnh hưởng của nguồn từ ngoại lai đó. Bài Vấn đề “Từ ngoại lai” Nhật ngữ trong Hán ngữ hiện đại của GS Vương Bân Bân (Wang Bin-bin) ở Khoa Trung văn ĐH Nam Kinh đăng trên tạp chí Văn học Thượng Hải số 8/1998 khẳng định 70% danh từ, thuật ngữ thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hiện nay TQ dùng là nhập từ Nhật. “Trên thực tế, nếu rời khỏi các từ ngoại lai Nhật ngữ thì ngày nay chúng ta gần như không thể nói chuyện được” – ông viết.

Hiện tượng các từ ngữ chữ Hán do người Nhật sáng tạo ồ ạt du nhập TQ và được người TQ dễ dàng tiếp nhận cho thấy văn hóa Nhật có sức đồng hóa rất mạnh. Có học giả TQ cho rằng nếu trong Thế chiến II Nhật chiếm được toàn bộ TQ thì có lẽ người TQ đã biến thành người Nhật. Quả thật điều đó đã xảy ra sau khi đảo Đài Loan bị sáp nhập vào nước Nhật (1895-1945). Cựu Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy (sinh 1923) nói 30 năm đầu ông là người Nhật. Thậm chí có người Đài Loan không nói được tiếng Đài Loan, chỉ nói tiếng Nhật.

Một số dân mạng TQ cho rằng nói từ ngữ ngoại lai gốc Nhật chiếm tỷ lệ 70% là nịnh bợ Nhật, là hủy hoại nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm; họ khó chấp nhận kết luận “Trung dịch thua, Nhật dịch thắng”. Ngược lại, nhiều học giả TQ cho rằng chẳng có gì đáng xấu hổ khi thừa nhận đóng góp của người Nhật đối với sự phát triển Hán ngữ.

“Hiện đại Hán ngữ Đại từ điển” chia từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật làm hai loại: 1- Loại người Nhật mượn dùng các từ Hán ngữ cổ đã có của TQ nhưng gán hàm nghĩa mới và cách dùng mới, như cách mạng, kinh tế, văn hóa …; 2 – Loại do người Nhật dùng chữ Hán tự sáng tạo, như mỹ thuật, trà đạo, thủ tục…

“Hán ngữ Ngoại lai ngữ từ điển” xuất bản năm 1984 thống kê được 772 từ ngoại lai có gốc Nhật, phần lớn thuộc loại thứ nhất, nhưng nhiều người không tán thành, vì từ ngoại lai gốc Nhật có ý nghĩa khác hẳn từ Hán ngữ cổ. Ví dụ kinh tế, Hán ngữ cổ là kinh thế tế dân, ý nói sự quản trị quốc gia. Trong Hán ngữ hiện đại, kinh tế là các hoạt động sản xuất xã hội, lưu thông, trao đổi.

Bài Nghiên cứu ngoại lai ngữ trong Hán ngữ hiện đại của Cao Minh Khải và Lưu Chính Viêm cho rằng Hán ngữ hiện đại có 459 từ ngoại lai nguồn gốc Nhật. Những từ này hiện đã mọc rễ ở TQ, chủ yếu vì người Nhật dùng từ rất khôn khéo, nhất trí với quy tắc tạo từ của Hán ngữ, dễ hiểu, dễ ghi nhớ và phổ cập. Không ít từ ngoại lai Hán ngữ vốn có cũng bị từ ngoại lai gốc Nhật thay thế. Ví dụ: hợp điểm thay bằng phân tử; giới thuyết bằng định nghĩa; minh giác tráo/ nhãn minh y – giác mạc; nguyên hành chất, nguyên chất – nguyên tố; hoa tinh/ hoa tinh phấn/ tu phấn – hoa phấn …

——————

Dưới đây là những ví dụ về một số từ ngoại lai nguồn gốc Nhật thường gặp, do GS Trần Sinh Bảo ở Đại học Ngoại quốc ngữ Thượng Hải thống kê, phân loại; chúng tôi chỉ ghi chú kèm những từ đã có từ Hán-Việt tương ứng:
Từ tu sức + từ được tu sức:

(1) Hình dung từ + danh từ. Ví dụ: 人权 nhân quyền, 金库, 特权 đặc quyền, 哲学 triết học, 表象 biểu tượng, 美学 mỹ học, 背景 bối cảnh, 化石 hóa thạch, 战线 chiến tuyến, 环境 hoàn cảnh, 艺术 nghệ thuật, 医学 y học, 入场券, 下水道, 公证人, 分类表, 低能儿.

(2) Phó từ + động từ. Ví dụ: 互惠, 独占 độc chiếm, 交流 giao lưu, 高压, 特许, 否定 phủ định, 肯定 khẳng định, 表决 biểu quyết, 欢送, 仲裁 trọng tài, 妄想, 见习 kiến tập, 假释, 假死, 假设 giả thiết.
Từ phức hợp đồng nghĩa:

Ví dụ: 解放 giải phóng, 供给 cung cấp, 说明 thuyết minh, 方法 phương pháp, 共同 cộng đồng, 主义 chủ nghĩa, 阶级 giai cấp, 公开 công khai, 共和 cộng hòa, 希望 hy vọng, 法律 pháp luật, 活动 hoạt động, 命令 mệnh lệnh, 知识 tri thức, 综合 tổng hợp, 说教 thuyết giáo, 教授 giáo thụ, 解剖 giải phẫu, 斗争 đấu tranh.

III. Động từ + tân ngữ:

Ví dụ: 断交, 脱党, 动员 động viên, 失踪, 投票 đầu phiếu, 休战, 作战 tác chiến, 投资 đầu tư, 投机 đầu cơ, 抗议 kháng nghị, 规范 quy phạm, 动议, 处刑.
Từ phức hợp do các đơn từ kể trên họp thành:

Ví dụ: 社会主义 xã hội chủ nghĩa, 自由主义 tự do chủ nghĩa, 治外法权 trị ngoại pháp quyền, 土木工程, 工艺美术 công nghệ mỹ thuật, 自然科学 tự nhiên khoa học, 自然淘汰 tự nhiên đào thải, 攻守同盟, 防空演习 phòng không diễn tập, 政治经济学 chính trị kinh tế học, 唯物史观 duy vật sử quan, 动脉硬化, 神经衰弱 thần kinh suy nhược, 财团法人 tài đoàn pháp nhân, 国际公法 quốc tế công pháp, 最后通牒 tối hậu thông điệp, 经济恐慌 kinh tế khủng hoảng.

Ngoài ra còn có: Động từ: 服从 phục tùng, 复习, 支持, 分配 phân phối, 克服 khắc phục, 支配 chi phối, 配给…

Khái niệm cơ bản về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội: 哲学 triết học, 心理学 tâm lý học, 论理学 luân lý học, 民族学 dân tộc học, 经济学 kinh tế học, 财政学 tài chính học, 物理学 vật lý học, 卫生学 vệ sinh học, 解剖学 giải phẫu học, 病理学 bệnh lý học, 下水工学, 土木工学, 河川工学, 电气通信学, 建筑学 kiến trúc học, 机械学 cơ giới học, 簿记, 冶金, 园艺, 和声学 hòa thanh học, 工艺美术…

Từ kết vĩ (结尾词):

(1) 化 hóa: 一元化 nhất nguyên hóa, 多元化 đa nguyên hóa, 一般化, 自动化 tự động hóa, 现代化 hiện đại hóa …
(2) 式 thức: 流动式, 简易式, 方程式, 日本式, 新式…
(3) 炎 viêm: 肺炎 (viêm phổi), 胃炎 (viêm dạ dày), 关节炎 (viêm khớp), 气管炎 (viêm khí quản), 皮肤炎 (viêm da)…
(4) 力 lực (sức): 生产力 (sức sản xuất), 原动力, 想像力 (sức tưởng tượng), 劳动力 (sức lao động), 记忆力…
(5) 性 tính: 可能性, 必然性 (tính tất nhiên), 偶然性(tính ngẫu nhiên), 周期性(tính chu kỳ), 习惯性(tính tập quán)…
(6) 的: 大众的, 民族的, 科学的, 绝对的, 公开的…
(7) 界 giới: 文学界 (giới văn học), 艺术界(giới nghệ thuạt), 思想界(giới tư tưởng), 学术界(giới học thuật), 新闻界…
(8) 型 hình: 新型, 大型, 流线型, 标准型, 经验型…
(9) 感 cảm: 美感, 好感, 优越感, 敏感, 读后感…
(10) 点 điểm: 重点 trọng điểm, 要点 yếu điểm, 焦点 tiêu điểm, 观点 quan điểm, 出发点 (điểm xuất phát), 盲点 (điểm mù)…
(11) 观 quan: 主观 chủ quan, 客观 khách quan, 悲观 bi quan, 乐观 lạc quan, 人生观 nhân sinh quan, 世界观 thế giới quan, 宏观, 微观…
(12) 线 tuyến: 直线, 曲线, 抛物线, 生命线, 战线 chiến tuyến, 警戒线…
(13) 率 suất: 效率 hiệu suất, 生产率, 增长率, 利率 tỷ suất, 频率 tần suất…
(14) 法 pháp: 辨证法 biện chứng pháp, 归纳法 (phép quy nạp), 演绎法 (phép diễn dịch), 分析法 (phép phân tích), 方法 phương pháp, 宪法 hiến pháp, 民法, 刑法…
(15) 度 độ: 进度 tiến độ, 深度, 广度, 强度 cường độ, 力度…
(16) 品 phẩm: 作品 tác phẩm, 食品 thực phẩm, 艺术品, 成品 thành phẩm, 展品, 废品 phế phẩm, 纪念品…
(17) 者 giả: 作者 tác giả, 读者 độc giả, 译者 dịch giả, 劳动者, 缔造者, 先进工作者…
(18) 作用 tác dụng: 同化作用 (tác dụng đồng hóa), 异化作用 (tác dụng dị hóa), 光合作用 (tác dụng quang hợp), 心理作用 (tác dụng tâm lý), 副作用 (tác dụng phụ)…
(19) 问题 vấn đề: 人口问题 (vấn đề nhân khẩu), 社会问题 (vấn đề xã hội), 民族问题 (vấn đề dân tộc), 教育问题 (vấn đề giáo dục), 国际问题 (vấn đề quốc tế)…
(20) 时代 thời đại: 旧石器时代 (thời đại đồ đá cũ), 新石器时代 (thời đại đồ đá mới), 新时代 (thời đại mới), 旧时代 (thời đại cũ)…
(21) 社会 xã hội: 原始社会 (xã hội nguyên thủy), 奴隶社会(xã hội nô lệ), 封建社会(xã hội phong kiến), 资本主义社会(xã hội chủ nghĩa tư bản), 社会主义社会(xã hội XHCN), 国际社会…
(22) 主义 chủ nghĩa: 人文主义 (chủ nghĩa nhân văn), 人道主义 (chủ nghĩa nhân đạo), 浪慢主义 (chủ nghĩa lãng mạn), 现实主义 (chủ nghĩa hiện thực), 帝国主义 (chủ nghĩa đế quốc), 排外主义 (chủ nghĩa bài ngoại)…
(23) 阶级 giai cấp: 地主阶级 (giai cấp địa chủ), 资产阶级 (giai cấp tư sản), 中产阶级(giai cấp trung sản), 无产阶级(giai cấp vô sản)…

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do sống tại Hà Nội.